Trường hợp định tội danh sai là do người tiến hành tố tụng nhận thức không đúng các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội Cướp tài sản trong Bộ luật Hình sự, đánh giá không chính xác tình tiết vụ án, còn nhầm lẫn giữa tội Cướp tài sản với các tội phạm khác một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự; làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố đối với những trờng hợp có đầy đủ những chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can. 1.2. Điểm a Khoản 1 Điều 255 Luật tố tụng hành chính 2015 quy định về căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau: “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích 2.2. Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính. Đương sự là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận ngành luật tố tụng. Việc xác định không đúng tư cách đương sự sẽ là căn cứ để hủy các bản án, quyết định của Tòa án. Việc xác định đúng tư cách đương sự sẽ 1. Tố tụng hành chính là gì? Tố tụng hành chính là toàn bộ hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan Nhà nước và tổ chức trong việc giải quyết vụ án hành chính, cũng như trình tự do pháp luật quy định đối với việc khởi kiện Đó là, theo điều 19, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành. Luật tố tụng hành chính hiện hành là tập hợp nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính, trình tự thủ tục giải quyết vụ án hành chính, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức liên quan đến việc xét xử vụ án hành chính. Mẫu số 22-HC (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) . 1. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính quy định tại Điều 309 của Luật này được thực hiện như sau a Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri thì các bên đương sự phải tiếp tục thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri theo quy định của pháp luật; b Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy toàn bộ hoặc một phần quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì quyết định hoặc phần quyết định bị hủy không còn hiệu lực. Các bên đương sự căn cứ vào quyền và nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án để thi hành; c Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã hủy quyết định kỷ luật buộc thôi việc thì quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị hủy không còn hiệu lực. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc phải thực hiện bản án, quyết định của Tòa án; d Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên bố hành vi hành chính đã thực hiện là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải đình chỉ thực hiện hành vi hành chính đó kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án; đ Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là trái pháp luật thì người phải thi hành án phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án; e Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án buộc cơ quan lập danh sách cử tri sửa đổi, bổ sung danh sách cử tri thì người phải thi hành án phải thực hiện ngay việc sửa đổi, bổ sung đó khi nhận được bản án, quyết định của Tòa án; g Trường hợp Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thi hành ngay khi nhận được quyết định; h Quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. 2. Thời hạn tự nguyện thi hành án được xác định như sau a Người phải thi hành án phải thi hành ngay bản án, quyết định quy định tại điểm e và điểm g khoản 1 Điều này kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án; b Người phải thi hành án phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án. Cơ quan phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án phải thông báo kết quả thi hành án quy định tại khoản này bằng văn bản cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về những nội dung cơ bản được áp dụng trong quá trình tố tụng hành chính; về nhiệm vụ, về quyền hạn lẫn trách nhiệm của những chủ thể có liên quan nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi của con người. Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật hành chính, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 24/7 1900 6198 Luật Tố tụng Hành chính là gì?Những nội dung cơ bản của Luật Tố tụng Hành chínhKhuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Luật Tố tụng hành chính là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tố tụng hành chính phát sinh giữa Tòa án với những người tham gia tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan và tổ chức. Những nội dung cơ bản của Luật Tố tụng Hành chính i Quy định chung Phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của Luật Tố tụng hành chính; Giải thích từ ngữ; Những nguyên tắc chung, ví dụ như quyền khởi kiện; trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh; chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; nguyên tắc xét xử tập thể, xét xử kịp thời, công bằng, công khai;… ii Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiến hành tố tụng Xác định cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Quyền, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng; Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng. iii Thẩm quyền giải quyết của Tòa án Cách xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi có đơn khởi kiện, đơn khiếu nại; Xem xét đơn có thuộc thẩm quyền giải quyết, nếu không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển vụ án cho Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết; Nhập hoặc tách vụ án hành chính. iv Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng Xác định người tham gia tố tụng là những chủ thể nào; Quyền, nghĩa vụ của đương sự, người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Về người đại diện trong tố tụng hành chính, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. v Chứng minh và chứng cứ Trong mục chứng minh và chứng cứ sẽ có những nội dung chủ yếu sau Về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh; Về xác định đâu là chứng cứ, nguồn chứng cứ, những trường hợp không phải chứng minh; Về việc lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng; Về việc trưng cầu giám định, yêu cầu giám định; Về việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản,… vi Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng; Các phương thức cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng; Thủ tục cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng. vii Các biện pháp khẩn cấp tạm thời Về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Về thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời. viii Khởi kiện, thụ lý vụ án Quyền khởi kiện; Thời hiệu khởi kiện; Thủ tục khởi kiện như quá trình nhận và xem xét đơn khởi kiện; thụ lý vụ án; phân công thẩm phán giải quyết vụ án. ix Thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử Về thời hạn chuẩn bị xét xử; Về nguyên tắc đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án; Về việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án; quyết định đưa vụ án ra xét xử. x Phiên tòa sơ thẩm Về yêu cầu chung về phiên tòa sơ thẩm như thời hạn, địa điểm, hình thức mở phiên tòa,… Về thủ tục bắt đầu phiên tòa Về tranh tụng tại phiên tòa xi Thủ tục phúc thẩm Về quy định chung về thủ tục phúc thẩm như xác định người có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo,… Về thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm; Về tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm. xii Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại tòa án Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại tòa án cấp sơ thẩm như phạm vi, điều kiện áp dụng,… Giải quyết vụ án hành chính theo thủ tục rút gọn tại tòa án cấp phúc thẩm như thời gian kháng cáo, kháng nghị; thủ tục thực hiện;… xiii Thủ tục giám đốc thẩm Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ giám đốc thẩm; Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ giám đốc thẩm; Thẩm quyền giám đốc thẩm; Thủ tục giải quyết giám đốc thẩm. xiv Thủ tục tái thẩm Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm; Thẩm quyền của hội đồng tái thẩm. Xem thêm Quy định về công bố và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hành chính Giải quyết tranh chấp hợp đồng có yếu tố nước ngoài như thế nào? Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail info Phần Khái quát về ngành Luật Tố tụng hành chính Việt NamNhận định 1Nhận định 2Nhận định 3Nhận định 4Nhận định 5Phần Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hành chính Việt NamNhận định 6Nhận định 7Nhận định 8Nhận định 9Nhận định 10Phần Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dânNhận định 11Nhận định 12Nhận định 13Nhận định 14Nhận định 15Phần Chủ thể tiến hành và người tham gia tố tụngNhận định 16Nhận định 17Nhận định 18Nhận định 19Nhận định 20Phần Biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí và vấn đề cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụngNhận định 21Nhận định 22Nhận định 23Nhận định 24Nhận định 25Phần Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng hành chínhNhận định 26Nhận định 27Nhận định 28Nhận định 29Nhận định 30 Tuyển tập Câu nhận định môn Luật tố tụng hành chính năm 2015 Câu hỏi bán trắc nghiệm có đáp án tham khảo được cập nhật liên tục. Bạn có câu nhận định nào cần hỏi, vui lòng để lại bình luận phía cuối bài viết để được giải đáp nhé! Đề thi môn Luật Hành chính Việt Nam – TUYỂN TẬP Đề thi môn Luật Tố tụng hành chính Việt Nam – TUYỂN TẬP Phần Khái quát về ngành Luật Tố tụng hành chính Việt Nam Nhận định 1 Khi xét xử sơ thẩm, nếu đương sự vắng mặt, tòa án phải hoãn phiên tòa. Nhận định SAI. Bởi vì Vẫn có các trường hợp đương sự vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành xét xử. Theo đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa. Trường hợp quy định tại điểm b điểm d khoản 2 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015 Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ và điểm d khoản 2 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính 2015 Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ. Cơ sở pháp lý Điều 158 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 2 Người khởi kiện bao giờ cũng là cá nhân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính. Nhận định SAI. Bởi vì Có các trường hợp người khởi kiện, không hề bị xâm hại, vì họ chỉ là đại diện cho người khác. Ví dụ Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật. Cơ sở pháp lý Khoản 4 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 3 Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng chỉ được Tòa chấp nhận ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Nhận định SAI. Bởi vì Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng có thể được thực hiện ở bất kỳ giai đoạn nào. Điều này được quy định trực tiếp tại khoản 6 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng hành chính. Cơ sở pháp lý Khoản 6 Điều 59 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 4 Khi được Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của vụ án, cá nhân, tổ chức được yêu cầu dù cung cấp hay không cũng phải trả lời Tòa án bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết. Cơ sở pháp lý Điều 10 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 5 Hội thẩm nhân dân là thành phần bắt buộc khi xét xử tất cả các vụ án hành chính. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Hội thẩm nhân dân là thành viên của Hội đồng xét xử, do đó nếu không có Hội thẩm nhân dân thì phiên toà phải hoãn. Cơ sở pháp lý Điểm b khoản 1 Điều 162, điểm b khoản 1 Điều 232 Luật Tố tụng hành chính 2015. Phần Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hành chính Việt Nam Nhận định 6 Mọi vụ án hành chính đều phải qua hai cấp xét xử vì đây là nguyên tắc của tố tụng hành chính. Nhận định SAI. Bởi vì Tuy đây là nguyên tắc, nhưng trường hợp sau khi qua xét xử sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ thì không cần qua cấp xét xử phúc thẩm. Theo đó “Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật”. Cơ sở pháp lý Điều 11 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 7 Khi có kháng cáo hoặc kháng nghị, Tòa án bắt buộc phải mở phiên tòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Nhận định SAI. Bởi vì Việc khi có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án có bắt buộc phải mở phiên tòa xét xử theo thủ tục phúc thẩm hay không còn tuỳ thuộc vào việc kháng cáo, kháng nghị có hay không đúng quy luật của pháp luật. Đúng quy định của pháp luật ở đây là về vấn đề kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định, và chủ thể có quyền thực hiện. Theo đó “Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.” Cơ sở pháp lý Điều 11 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 8 Tòa án có thể áp dụng pháp luật dân sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Trong một số trường hợp có thể dùng pháp luật khác, thí dụ luật dân sự bồi thường ngoài hợp đồng, luật đất đai đền bù giải toả. Ví dụ Trường hợp trong vụ án hành chính có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chưa có điều kiện để chứng minh thì Tòa án có thể tách yêu cầu bồi thường thiệt hại để giải quyết sau bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Cơ sở pháp lý Điều 7 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 9 Thời điểm xác định thời hiệu khởi kiện bắt đầu từ khi người khởi kiện nộp đơn kiện. Nhận định SAI. Bởi vì Việc xác định thời điểm xác định thời hiệu khởi kiện bắt đầu phải phụ thuộc theo từng trường hợp cụ thể. Theo đó, thời hạn khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; thời hiệu khởi kiện là 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Cơ sở pháp lý Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 10 Một người có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhiều đương sự trong một vụ án. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau”. Cơ sở pháp lý Khoản 3 Điều 61 Luật Tố tụng hành chính 2015. Phần Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân Nhận định 11 Tòa án nhân dân cấp tỉnh không có quyền xét xử theo trình tự giám đốc thẩm và tái thẩm. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 266 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm thì chỉ có Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao và Điều 286 Luật Tố tụng hành chính 2015 chỉ rõ thẩm quyền tái thẩm được thực hiện như Giám đốc thẩm. Cơ sở pháp lý Điều 266 và Điều 286 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 12 Tòa án nhân dân cấp tỉnh phải thụ lý xét xử theo trình tự phúc thẩm trong trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị. Nhận định SAI. Tòa án cấp trên trực tiếp xử lại vụ án hành chính sơ thẩm của cấp dưới, nhưng phải tuân thủ các điều kiện nhất định ví dụ như việc kháng cáo, kháng nghị phải hợp lệ. Cơ sở pháp lý Điều 203 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 13 Trong vụ án hành chính người khởi kiện có thể không phải là đối tượng áp dụng quyết định hành chính bị khiếu kiện. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Do người khởi kiện bị ảnh hưởng quyền lợi dù không bị áp dụng Quyết định hành chính. Thí dụ Quyết định đặt tên doanh nghiệp bị trùng lặp hoặc giấy phép xây dựng lấn không gian xung quanh. Cơ sở pháp lý Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 14 Cán bộ công chức nhà nước bị xử lý kỷ luật có quyền khởi kiện tại tòa hành chính. Nhận định SAI. Bởi vì Chỉ cán bộ, công chức nhà nước bị kỷ luật buộc thôi việc, từ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống, mới có quyền khởi kiện tại Tòa hành chính. Cơ sở pháp lý Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 15 Chuẩn bị xét xử là giai đoạn chuẩn bị mở phiên tòa. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Đây là phần quan trọng của tố tụng về việc giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm để chuẩn bị xét xử. Phần chuẩn bị xét xử được quy định tại Chương X quy định về Thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử. Cơ sở pháp lý Chương X Luật Tố tụng hành chính 2015. Phần Chủ thể tiến hành và người tham gia tố tụng Nhận định 16 Nếu không đồng ý với bản án phúc thẩm, các bên có quyền kháng cáo để yêu cầu xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Nhận định SAI. Bởi vì Khi Bản án chưa có hiệu lực pháp luật, nếu không đồng ý với bản án phúc thẩm, các bên có quyền kháng cáo để yêu cầu xem xét lại theo thủ tục. Tuy nhiên, nếu các bên muốn yêu cầu xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm thì Bản án phải là Bản án có hiệu lực pháp luật. Cơ sở pháp lý Khoản 23 Điều 55 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 17 Đối với mọi phiên tòa hành chính sơ thẩm thì phải có mặt đương sự. Nhận định SAI. Bởi vì Đương sự có thể vắng mặt theo các trường hợp quy định tại điều 158 Luật Tố tụng hành chính 2015 “1. Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; 2. Người khởi kiện, người bị kiện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa; 3. Trường hợp quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 157 của Luật này.” Trong các trường hợp trên, mặc dù đương sự vắng mặt nhưng vẫn diễn ra phiên tòa hành chính sơ thẩm. Nhận định 18 Tòa án phải đình chỉ vụ án nếu đương sự đã được triệu tập 3 lần đều không có mặt. Nhận định SAI. Bởi vì Tòa án chỉ đình chỉ vụ án khi người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan. Theo đó, nếu đương sự không có mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc thuộc trường hợp có sự kiến bất khả kháng, trở ngại khách quan thì không đình chỉ vụ án mà tùy trường hợp có thể xét xử vắng mặt hoặc tạm đình chỉ vụ án theo quy định. Cơ sở pháp lý Điểm đ khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 19 Các vụ án hành chính mà đối tượng áp dụng quyết định hành chính là người chưa thành niên đều phải có luật sư tham gia. Nhận định SAI. Các vụ án hành chính mà đối tượng áp dụng quyết định hành chính là người chưa thành niên thì việc đại diện của người chưa thành niên có thể được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hay Tòa án cử, không bắt buộc là luật sư người bảo vệ quyền , lợi ích của đương sự. Cơ sở pháp lý Khoản 4 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015 Nhận định 20 Người nước ngoài không được là người đại diện tham gia trong vụ án hành chính. Nhận định SAI. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Người đại diện thì chủ thể đại diện không giới hạn người nước ngoài. Do đó, người nước ngoài có thể là người đại diện tham gia trong vụ án hành chính. Cơ sở pháp lý Khoản 2 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015 Phần Biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí và vấn đề cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Nhận định 21 Quan hệ giữa các chủ thể trong tố tụng hành chính là quan hệ bất bình đẳng. Nhận định SAI. Bởi vì Quan hệ giữa các chủ thể trong tố tụng hành chính là quan hệ bất bình đẳng ngoài quan hệ giữa Tòa án và người bị xét xử còn có quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân về quyền, nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Cơ sở pháp lý Điều 17 Luật Tố tụng hành chính 2015 Nhận định 22 Tòa án nhân dân cấp Tỉnh không chỉ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Tòa án nhân dân cấp Tỉnh không chỉ giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính của các cơ quan nhà nước cấp tỉnh trên cùng lãnh thổ, mà còn giải quyết các Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc… Cơ sở pháp lý Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 23 Xác minh, thu thập chứng cứ là nghĩa vụ mà Tòa án phải làm đối với bất cứ một vụ khiếu kiện hành chính nào. Nhận định SAI. Bởi vì Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Tố tụng hành chính 2015 nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán thì Xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên tòa, phiên họp để giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật Tố tụng tụng hành chính 2015 là nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán Tòa án. Tuy nhiên, trường hợp các bên đương sự đã cung cấp đủ các tài liệu, chứng cứ thì Thẩm phán mới phải tự mình xác minh, thu thập chứng cứ và ngược lại, nếu các bên đã cung cấp đầy đủ thì không cần phải xác minh, thu thập chứng cứ. Do vậy, việc xác minh, thu thập chứng cứ không phải nghĩa vụ của Tòa án phải làm trong bất kỳ vụ khiếu kiện hành chính nào. Cơ sở pháp lý Khoản 3 Điều 38 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 24 Việc cung cấp bản sao các Quyết định hành chính, Quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu nếu có và các chứng cứ khác nếu có là nghĩa vụ của cả người khởi kiện lẫn người bị kiện. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Việc cung cấp bản sao các Quyết định hành chính, Quyết định kỷ luật buộc thôi việc, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu nếu có và các chứng cứ khác nếu có là nghĩa vụ là nghĩa vụ của đương sự nên nó là nghĩa vụ của cả người khởi kiện lẫn người bị kiện. Cơ sở pháp lý Điều 9 Luật Tố tụng hành chính 2015 Nhận định 25 Tại phiên tòa, Chánh án Tòa án nhân dân có quyền quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký tòa án. Nhận định SAI. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 49 Luật Tố tụng hành chính 2015 về thẩm quyền Quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì trước khi mở phiên tòa, thẩm quyền quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký tòa án là của Chánh án Tòa án, còn tại phiên tòa thì thẩm quyền Quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thuộc về Hội đòng xét xử. Cơ sở pháp lý Điều 49 Luật Tố tụng hành chính 2015. Phần Chứng minh và chứng cứ trong tố tụng hành chính Nhận định 26 Người nước ngoài không được tham gia tố tụng hành chính với tư cách là luật sư. Nhận định SAI. Bởi vì Căn cứ theo pháp luật Việt Nam thì người nước ngoài có thể hành nghề luật sư tại Việt Nam. Theo quy định tại Điều 61 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Luật sư có thể tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, không có quy định loại trừ luật sư là người nước ngoài. Cơ sở pháp lý Điều 61 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 27 Xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc để giải quyết vụ án hành chính. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử thì thủ tục xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc để giải quyết vụ án hành chính. Cơ sở pháp lý Điều 11 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 28 Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án. Nhận định ĐÚNG. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong quá trình giải quyết tùy do quyết định của Thẩm phán và có thể tiến hành ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án. Cơ sở pháp lý khoản 1 Điều 66 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nhận định 29 Đối tượng xét xử của tố tụng hành chính là mọi quyết định hành chính bị coi là trái pháp luật. Nhận định SAI. Bởi vì Không phải bất kì quyết định hành chính cũng là đối tượng xét xử của toà hành chính. Ví dụ Các quyết định về điều động, về khen thưởng. Mặc khác khi quyết định hành chính được đưa ra xét xử có kết luận cuối cùng chưa hẳn là trái pháp luật. Nhận định 30 Mọi cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước đều là người khởi kiện. Nhận định SAI. Bởi vì Trường hợp đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật, theo đó họ không phải là cá nhân, tổ chức có quyền lợi bị xâm hại mà chỉ là người đại diện của họ. Cơ sở pháp lý Khoản 4 Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015. Nguồn Fanpage Luật sư Online – Đặt vấn đềTheo quy định tại Điều 241 Luật Tố tụng hành chính LTTHC hiện hành, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có các quyền hạn sau Giữ nguyên bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; sửa bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ tập trung bình luận, phân tích quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án tại khoản 3 Điều 241 LTTHC. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra một vài điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật TTHC và đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn định của pháp luật tố tụng hành chính – một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiệnBản án hành chính sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm ban hành, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án sơ thẩm là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử vụ án tại phiên tòa, nhằm thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, đồng thời còn xác định trách nhiệm pháp lý của đương sự tùy theo sự phán quyết của Hội đồng xét xử sơ thẩm. Về nguyên tắc, khi Tòa án ban hành bản án hành chính sơ thẩm thì bản án phải được thực thi một cách nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, vì lý do chủ quan, khách quan khác nhau mà bản án sơ thẩm còn chưa chính xác, ảnh hưởng đến lợi ích của các đương sự. Do đó, LTTHC cho phép đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự được kháng cáo, Viện kiểm sát được kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực theo thủ tục phúc thẩm trong khoảng thời gian luật định. Khi có kháng cáo, kháng nghị về bản án sơ thẩm hợp pháp thì thủ tục phúc thẩm phát sinh, xác định trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét xử lại vụ án, thẩm định tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Căn cứ vào khoản 3 Điều 241 LTTHC khi thẩm định lại bản án sơ thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm được quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử thể dễ dàng nhận thấy, đây là một trong những quyền hạn quan trọng của Hội đồng xét xử phúc thẩm VAHC, xác định bản án sơ thẩm được ban hành chưa đúng còn sai sót. Vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án trong trường hợp nào? Khoản 3 Điều 241 LTTHC quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong hai trường hợp sauTrường hợp thứ nhất Có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụngCó thể thấy, “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là căn cứ pháp lý đầu tiên để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Thế nhưng, cho đến thời điểm này, LTTHC và các văn bản hướng dẫn thi hành, lại không có quy định giải thích cụ thể các sai sót bị xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và cũng chưa đề ra tiêu chí phân biệt ranh giới giữa vi phạm nghiêm trọng với vi phạm chưa tới mức nghiêm trọng. Chính vì vậy, việc hiểu cụ thể về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm còn có những ý kiến khác kiến thứ nhất cho rằng, “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc Tòa án cấp sơ thẩm đã có những sai phạm về mặt thủ tục tố tụng dẫn đến việc giải quyết xét xử vụ án không tuân thủ những quy định của pháp luật tố tụng hành chính làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vụ án[1]. Có phần khác, ý kiến thứ hai đưa ra cách hiểu sau “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là những vi phạm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng[2]. Như vậy, việc LTTHC không giải thích rõ cụm từ “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” đã làm cho việc hiểu và áp dụng pháp luật gặp khó khăn, lúng túng, thiếu thống nhất giữa các địa phương, các cấp Tòa, ảnh hướng đến chất lượng trong phán quyết của bản án phúc những phân tích trên đây, để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, chính xác thì tác giả xin kiến nghị về khái niệm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hành chính như sau vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là những vi phạm về mặt thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật, khách quan của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm đến quyền, nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng. Để làm rõ được khái niệm này, tác giả xin nêu một số những vi phạm về thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm bao gồm cả việc chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, cũng như một số việc cần phải tiến hành sau phiên tòa; những vi phạm cũng rất đa dạng song có thể nêu lên một số vi phạm thủ tục tố tụng thường xảy ra dẫn đến việc hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại như sau vi phạm về thành phần hội đồng xét xử; xác định không đúng tư cách đương sự; không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án; không thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa khi thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi theo quy định của LTTHC; vi phạm về thủ tục tiến hành phiên tòa; bỏ sót chưa giải quyết triệt để hết các yêu cầu của người khởi kiện; không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu của người khởi kiện không đúng, xác định nhầm đối tượng khởi kiện, việc nghị án không đúng…[3]Bên cạnh đó, một điều cần lưu ý, không phải tất cả các vi phạm pháp luật TTHC của tòa án cấp sơ thẩm đều là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà những vi phạm pháp luật đó phải đến mức nghiêm trọng, tức là làm cho việc giải quyết đó thiếu khách quan, toàn diện, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Còn những vi phạm pháp luật mà không làm ảnh hưởng nghiêm trọng thì không coi là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án và chuyển hồ sơ cho tòa án cấp xét xử sơ thẩm xét xử hợp thứ hai Phải thu thập chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp[4]. Trong TTHC, chứng cứ được xem là căn cứ quan trọng không thể thiếu để Tòa án giải quyết vụ án khách quan, chính xác và đúng pháp luật. Về nguyên tắc, các chứng cứ được sử dụng phải đáp ứng hết các tiêu chuẩn khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Khi vụ án được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã phát hiện sự tồn tại của các chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ phải hủy bản án sơ thẩm và trả hồ sơ để Tòa án sơ thẩm xét xử lại vụ vậy trong căn cứ này, chúng ta phải làm rõ nội dung thế nào là chứng cứ mới, các đặc điểm để xác định một chứng cứ được coi là mới và trường hợp nào được hiểu là Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được. Hiện nay, pháp luật TTHC chưa có quy định nào nhằm xác định chứng cứ mới quan trọng trong vụ án hành chính nên việc hiểu về nó cũng còn có những lúng túng, băn khoăn nhất định, cụ thể Một là, nếu các chứng cứ đã tồn tại trong giai đoạn giải quyết sơ thẩm vụ án nhưng nó không xuất hiện vì do một trong các đương sự cố tình che giấu không làm cho chúng xuất hiện và Tòa án cũng không thể phát hiện ra đến giai đoạn phúc thẩm mới phát hiện ra vậy các chứng cứ này có được coi là mới hay không? Hai là trường hợp ngược lại, trong giai đoạn sơ thẩm, các đương sự đã xuất trình giao nộp các chứng cứ này nhưng Tòa án đã không sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án đến khi giải quyết phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm mới phát hiện ra, liệu rằng chúng có được coi là mới không? Ba là, thế nào là chứng cứ mới quan trọng? Thiết nghĩ để hiểu chính xác, đầy đủ nhất tất cả các băn khoăn trên là cần có sự hướng dẫn, giải thích chính danh từ các nhà làm vào mặt lý luận và thực tiễn xét xử vụ án hành chính, tác giả cho rằng chứng cứ được coi là mới khi nó làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án, ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự và thỏa mãn hai điều kiện sau đây 1/ Chứng cứ được Tòa án cấp phúc thẩm mới phát hiện ra đã tồn tại ngay từ đầu khi thụ lý xét xử sơ thẩm nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm và đương sự không biết đến sự tồn tại của chúng hoặc chúng chưa xuất hiện. Việc không biết các chứng cứ này có thể là do nguyên nhân khách quan làm cho cả Tòa án sơ thẩm và đương sự không biết song cũng có thể do một số người tham gia tố tụng biết nhưng cố ý che dấu không cung cấp làm cho Tòa án sơ thẩm không thể biết được. Ngược lại cũng có thể do một hoặc một số hoặc tất cả những người tiến hành tố tụng biết mà che dấu, bỏ qua không xem xét chúng, làm chúng không được tồn tại trong hồ sơ vụ án[5].2/ Về mặt thời gian, các chứng cứ được xem là mới làm thay đổi nội dung vụ án khi chúng được Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm phát hiện ra sự tồn tại và sự quan trọng của chứng cứ đó nhằm giải quyết triệt để vụ án. Việc Tòa án phát hiện ra có tồn tại chứng cứ mới có thể do quá trình Tòa án nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét và phát hiện ra sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm không đánh giá các chứng cứ đó hoặc cũng có thể là do người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát hiện sự tồn tại các chứng cứ mới nhưng các chứng cứ này Tòa án không thể bổ sung, thu thập ngay tại phiên tòa được. Từ các lập luận trên chúng ta thấy để giải thích chứng cứ mới quan trọng thì phải căn cứ vào hai tiêu chí nguyên nhân chúng tồn tại, xuất hiện và thời điểm chúng xuất hiện đã làm thay đổi nội dung vụ án và khi Tòa án phát hiện ra chúng mà không thể bổ sung ngay được thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm luậnQua các phân tích, bình luận trên cho thấy, LTTHC hiện hành quy định căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm “huỷ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại” tại khoản 3 Điều 241 chưa được toàn diện, thiếu tính rõ ràng, cụ thể làm cho việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, còn lúng túng của các Tòa phúc thẩm. Do đó, việc hoàn thiện sớm các bất cập này là rất cần thiết. Theo đó, tác giả đã mạnh dạn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các hạn chế đó nhằm bảo đảm cho việc áp dụng các phán quyết phúc thẩm được chính xác, thống Tạp chí Tòa án[1] Nguyễn Thị Thu Hà, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của bộ Luật tố tụng dân sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2010, tr 52[2] Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên2017, “Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, Đổng Nữ Hoàng Hương 2017, Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Tr 15[4] Điều 80 Luật TTHC năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2019[5] Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên2017, “Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info

bản án tố tụng hành chính