1. Đề kháng kháng sinh ở Việt Nam Kháng kháng sinh là khả năng các vi sinh vật có thể sinh trưởng và phát triển với sự hiện diện của một loại thuốc mà thông thường có thể giết chết hoặc ức chế được sự phát triển của chúng.
Kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản như một biện pháp để hạn chế mầm bệnh. Nhiều loại kháng sinh còn được sử dụng như chất kích thích tăng trưởng, dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh (ABR). Thông qua chuỗi thức ăn, mầm bệnh có thể lan truyền và gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người sử dụng.
Có 70-100% số mẫu V. parahaemolyticus gây AHPND có hiện tượng kháng với nhiều loại kháng sinh ở 3 miền Bắc, Trung và Nam. * Doxycycline có hiệu quả trị bệnh cao nhất so với các loại kháng sinh sử dụng khi sử dụng liều từ 3-5g/kg thức ăn.
VOV.VN - Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là nước có tình trạng kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới. Đây là tình trạng đáng báo động bởi điều này đồng nghĩa với việc nhiều bệnh nhân sẽ không được cứu sống khi vi khuẩn đã kháng tất cả các
Giải pháp kiểm soát tình trạng kháng kháng sinh Theo TS.Cao Hưng Thái để kiểm soát tốt vấn đề sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở nước ta hiện nay giải pháp là phải đồng bộ. Thứ nhất là nâng cao nhận thức, thứ 2 là về vấn đề chuyên môn kỹ thuật, thứ 3 là nâng
Việt Nam kiểm soát tương đối việc sử dụng kháng sinh trong cơ sở y tế. NDO -. Dự kiến tháng 1-2021, Việt Nam sẽ triển khai ứng dụng kê đơn điện tử trên toàn quốc. Điều này sẽ giúp việc kê đơn hợp lý, an toàn, hiệu quả góp phần hạn chế việc lạm dụng kê đơn
Kháng kháng sinh là một trong 10 mối đe dọa sức khỏe cộng đồng Phát biểu khai mạc tại Hội nghị, PGS TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam nhấn mạnh: Hiện nay Việt Nam đang là một quốc gia có tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới.
Trước đó, ngày 20/6, Việt Nam đã nhận 500.000 liều vaccine Vero Cell của Sinopharm do Chính phủ Trung Quốc trao tặng. Số vaccine này, theo thỏa thuận song phương
. Đăng bởi Hà Thị Huệ Ngày đăng Việt Nam là một trong những nước được tổ chức Y tế thế giới WHO xếp vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới. Bởi hiện nay, có đến 90% nhà thuốc tại Việt Nam bán thuốc kháng sinh không cần kê đơn và 87% người dân có thể đến nhà thuốc mua kháng sinh. Kháng thuốc kháng sinh là gì?Vi khuẩn kháng kháng sinh bằng cách nào?Biểu hiện kháng thuốc kháng sinhNguyên nhân kháng thuốc kháng sinhThiếu sót trong quy định về chuyên môn khám chữa bệnhSử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôiNhận thức về thuốc kháng sinh còn hạn chếSử dụng thuốc kháng sinh không hợp lýPhòng và kiêm soát các bệnh truyền nhiễm chưa hiệu quảTác hại kháng thuốc kháng sinhTình trạng kháng thuốc kháng sinh ở việt namTỉ lệ kháng thuốc kháng sinh ở Việt namBệnh kháng thuốc kháng sinh có nguy hiểm không?Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh Kháng thuốc kháng sinh là gì? Đây là tình trạng xảy ra một loại vi sinh vật tiến hóa để đề kháng mạnh hơn hoặc hoàn toàn với thuốc kháng sinh và trước đó có thể chữa trị được. Sự đề kháng phát sinh thông qua một trong 3 cách đó là đề kháng tự nhiên trong một số loại vi khuẩn, gen đột biến hoặc bởi một loài có được sức đề kháng từ một loài khác. Kháng thể xuất hiện một cách tự nhiên, do sự tích tụ dần dần theo thời gian và lạm dụng thuốc kháng sinh. Vi khuẩn kháng được nhiều loại thuốc kháng sinh được gọi là đa kháng. Hiện nay, trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật tại Hoa Kỳ đã xác định được 18 loại vi trùng và nấm kháng thuốc kháng sinh và hiện đang đe dọa đến sức khỏe công cộng. Vi khuẩn kháng kháng sinh bằng cách nào? Hiện tượng kháng kháng sinh có thể xảy ra theo một trong những cơ chế sau Làm thay đổi mục tiêu tác động của thuốc trên vi khuẩn. Chẳng hạn như làm thay đổi tính chất của vi khuẩn mà thuốc sẽ bám vào để tác động. Vô hiệu hóa thuốc bằng enzim beeta lactamase. Làm giảm độ thẩm thấu của màng tế bào vi khuẩn nên thuốc không tác động được. Biểu hiện kháng thuốc kháng sinh Biểu hiện kháng kháng sinh là hiện tượng khi mầm bệnh hoặc vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi thuốc kháng sinh, chúng vẫn tồn tại, sinh sản ra những thế hệ con cháu không có tính cảm ứng sensible với 1 hay nhiều loại thuốc kháng sinh nào đó. Kháng thuốc kháng sinh là tình trạng báo động, kháng sinh không còn khả năng tiêu diệt vi khuẩn Nguyên nhân kháng thuốc kháng sinh Kháng sinh là thuốc vô cùng quan trọng được sử dụng để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn. Nhưng việc lạm dụng và sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý đang làm gia tăng vấn đề. Những nguyên kháng kháng sinh có thể kể đến như Thiếu sót trong quy định về chuyên môn khám chữa bệnh Nhiều bệnh truyền nhiễm chưa có đủ hướng dẫn chẩn đoán và chữa trị, hoặc đã có hướng dẫn nhưng chưa được cập nhật. Quy định sử dụng kháng sinh, làm kháng sinh đồ, xét nghiệm vi sinh chưa hoàn thiện, việc giám sát trong quá trình thực hiện tại các địa phương cũng chưa được thự hiện đầy đủ, nhất là những khu vực vùng sâu, vùng xa. Sử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôi Kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi để thức đẩy tăng trưởng và phòng ngừa bệnh tật cho vật nuôi. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi có thể dẫn đến vi khuẩn ở môi trường này trở nên kháng thuốc và gây ra kháng thuốc ở người. Nhận thức về thuốc kháng sinh còn hạn chế Người dân có tự mua thuốc kháng sinh dễ dàng, chỗ nào cũng mua được dẫn đến tình trạng sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi. Một bệnh lý không cần sử dụng thuốc kháng sinh những người dân vẫn sử dụng khiến cho vi khuẩn kháng thuốc. Người dân tự ý mua thuốc kháng sinh không cần sự hướng dẫn của bác sỹ Sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý Dùng quá liều, không đủ liều hoặc lạm dụng thuốc kháng sinh cũng có thể gây ra tình trạng kháng thuốc, tạo điều kiện cho các vi khuẩn kháng thuốc xuất hiện. Việc sử dụng kháng sinh để chữa trị bệnh không do nhiễm khuẩn gây ra, sử dụng kháng sinh không phù hợp với loại vi khuẩn, virus, ký sinh trùng gây ra… cũng làm tăng nguy cơ kháng thuốc. Phòng và kiêm soát các bệnh truyền nhiễm chưa hiệu quả Việc phòng và kiểm soát bệnh truyền nhiễm kém hiệu quả sẽ làm tăng sự lan truyền của vi khuẩn kháng thuốc và lây chéo. Nhất là những căn bệnh xã hội. Tác hại kháng thuốc kháng sinh Theo bác sĩ Hà Thị Huệ, hiện đang công tác tại phòng khám Đa Khoa Y Học Quốc Tế thì thuốc kháng sinh ra đời từ nhũng năm đầu của thập niên 40, đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử y học nhân loại. Thuốc kháng sinh giúp cứu sống hàng triệu người mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng kháng thuốc kháng sinh đang gia tăng mức độ nguy hiểm ở tất cả các nơi trên thế giới. Đây là một vấn đề nan giải, hiện đang là mối quan tâm của cộng đồng vì nó gây ra những dòng khuẩn khỏe hơn, nguy hiểm hơn làm cho dịch bệnh lây lan nhanh hơn, khó chữa trị hơn và gây tốn kém, đặc biệt là cho người già, trẻ em và những người có sức khỏe hệ miễn dịch yếu làm tăng rủi ro khuyết tật, tử vong. Hậu quả của kháng thuốc kháng sinh Theo tổ chức y tế thế giới, mỗi năm trên thế giới có khoảng người tử vong do kháng kháng sinh, nếu tình trạng này không được kiểm soát, con số này có thể tăng lên 10 triệu người vào năm 2050. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh ở việt nam Tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh ở Việt nam Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất trên thế giới trên bản đồ kháng sinh năm 2015 của công tyt IMS Health. Đáng chú ý, mức sử dụng thuốc kháng sinh tại Việt Nam đã tăng vọt trong giai đoạn 2009 – 2015 với mức tăng gần gấp 3 so với giai đoạn 2005 – 2009. Trong đó, tình trạng bán thuốc kháng sinh không theo kê đơn tại Việt Nam chiếm tới 88% lượng kháng sinh bán tại các đô thị và 91% ở khu vực nông thôn. Chính vì vậy, tổ chức y tế thế giới WHO đã liệt kê Việt Nam vào danh sách các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới khi tỉ lệ thuộc nhóm carbapenem đã tăng 50%, chủ yếu là vi khuẩn gram âm; còn tỉ lệ nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3 đã tăng lên hơn 60% trên cả nước. Ngoài ra, bên phía bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng cho biết việc sử dụng thuốc tại Việt Nam trong 30 hoạt chất có chi phí nhiều nhất năm 2017 tại các bệnh viện là tỷ đồng, chiếm 40% BHYT, trong đó thuốc kháng sinh chiếm phần lớn khoảng 30% tổng chi phí thuốc. Bệnh kháng thuốc kháng sinh có nguy hiểm không? Đối với vấn đề này thì câu trả lời là có. Bởi khi mắc phải bệnh kháng thuốc kháng sainh sẽ dẫn đến việc chữa trị thuốc kháng sinh không còn tác dụng. Nguy cơ tử vong cao vì suy đa tạng, suy hô hấp, nhiễm trùng huyết… Vì vậy để việc điều trị thuốc kháng sinh có hiệu quả, tất cả các bệnh lý về vi khuẩn cần phải được bác sĩ khám và kê đơn chữa trị. Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc kháng sinh còn có thể khiến người bệnh đối mặt với những hậu quả nghiêm trong như Gây ngộ độc Gây béo phì và tiểu đường Tăng nguy cơ tử vong do tiêu chảy Hệ miễn dịch suy yếu Tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư Nguyên tắc dùng thuốc kháng sinh Như vậy có thể thấy bệnh kháng thuốc kháng sinh rất nguy hiểm, bệnh cạnh việc lạm dụng thuốc kháng sinh cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ. Do đó, để đảm bảo an toàn khi sử dụng thuốc kháng sinh chúng ta cần lưu ý những điều sau Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm trùng. Phải chọn đúng kháng sinh và đường cho thuốc thích hợp. Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng và đúng thời gian qui định. Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh. Hiện nay thì để hạn chế tình trạng này xảy ra người ta áp dụng kháng sinh đồ vào trong việc điều trị cho người bệnh. Để hiểu thêm về kháng sinh đồ là gì bạn hãy tham khảo bài cũ Kháng sinh đồ là gì? Phương pháp và mục đích làm kháng sinh đồ Trên đây là những chia sẻ của bác sỹ Hà Thị Huệ về tình hình kháng thuốc kháng sinh tại Việt Nam. Hy vọng qua bài viết này đã cung cấp được cho ban đọc có thêm được những thông tin bổ ích. Đồng thời, giúp mọi người ý thức hơn trong việc sử dụng thuốc kháng sinh để tránh những hậu quả mà thuốc kháng sinh có thể gây ra. Nguồn tham khảo Cập nhật lần cuối Bài viết liên quan Giảm ham muốn tình dục – làm sao để cải thiện?Trong cuộc sống vợ chồng hoặc các đôi tình nhân trẻ thì việc quan hệ tình dục làm tăng tình cảm đôi bên. Tuy nhiên qua thời gian dài thì cuộc yêu không còn như cũ. Bởi một trong hai đã giảm ham muốn tình dục. Có rất nhiều nguyên nhân từ chủ quan đến […] Đau bụng khi quan hệ – nguyên nhân và cách khắc phụcSau khi quan hệ chị em thường cảm thấy đau tức và khó chịu ở phần bụng. Đây có thể là dấu hiệu của rất nhiều bệnh lý gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của các chị em. Các chị em không nên chủ quan và bỏ qua các hiện […] Cách vệ sinh vùng kín ngày đèn đỏ sạch sẽ nhấtNgày đèn đỏ khu vực của các chị em luôn cảm thấy ẩm ướt, vùng kín lúc này nguy cơ viêm nhiễm cao hơn bình thường rất nhiều. Nếu không cẩn thận vệ sinh đúng cách hoặc làm sạch quá sẽ làm cho cô bé bị viêm nhiễm ngược lại. Dưới đây bác sỹ Hà […] Sở trường chuyên môn Viêm nhiễm phụ khoa viêm âm đạo, bệnh lý cổ tử cung, vòi trứng, buồng trứng… Tư vấn, thăm khám và điều trị bệnh lý rối loạn kinh nguyệt, rong kinh, chậm kinh, tiền mãn kinh,… Kế hoạch hóa gia đình khám tư vấn tránh thai, theo dõi, chăm sóc thai nghén… Tư vấn và thực hiện đình chỉ thai nghén an toàn cho thai dưới 12 tuần tuổi phá thai bằng thuốc và hút thai chân không… Tư vấn và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục sùi mào gà, lậu, herper sinh dục,… Tư vấn và thực hiện phẫu thuật thu hẹp tầng sinh môn, tạo hình màng ngăn âm đạo, Trình độ chuyên môn Với hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành Y, bác sĩ Huệ không ngừng học hỏi, nâng cao kỹ năng, trình độ; luôn tâm huyết với nghề, hết lòng vì bệnh nhân. Bác sĩ từng tham gia các chương trình đào tạo quốc gia về chuyên ngành sản phụ khoa hội nghị Sản phụ khoa Việt Pháp, đạt danh hiệu tiên tiến trong chuyên môn nhiều năm. Chức vụ bằng cấp Tốt nghiệp đại học Y Thái Nguyên Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa I sản phụ khoa đại học Y Hà Nội Bác sĩ lâm sàng sản phụ khoa bệnh viên đa khoa Yên Bái Bác sĩ chuyên khoa Cấp I chuyên ngành Sản phụ khoa, làm việc tại các bệnh viện lớn của Thủ đô. Quá trình công tác 1993 Tốt nghiệp đại học Y thái Nguyên 1997 Tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa I chuyên Sản phụ khoa Đại học Y Hà Nội. 1997 – 2000 Công tác tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Yên Bái 2000 – 2005 Cử đi học nâng cao và công tác tại một số bệnh viện lớn của Thủ đô. Bác sĩ từng tham gia các chương trình đào tạo quốc tế về chuyên ngành Sản phụ khoa hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp…. Nhiều năm đạt lao động tiên tiến trong chuyên môn. 2006 đến nay Bác sĩ Huệ công tác tại phòng khám Đa khoa Y học Hà Nội. Thành tích đạt được Bác sĩ Hà Thị Huệ với hơn 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Sản phụ khoa, đã đạt được rất nhiều thành tích xuất sắc trong công tác Đạt lao động tiên tiến trong nhiều năm Bác sĩ từng tham gia rất nhiều cuộc hội thảo khoa học về các bệnh lý phụ khoa ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, bác sĩ được vinh danh là thầy thuốc xuất sắc có tâm huyết với nghề.
Kháng kháng sinh tại Việt Nam Khoảng một nửa số bệnh nhân nhập viện tại Việt Nam là những người mang vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc, kháng với Carbapenems – một nhóm kháng sinh phổ rộng. Đây là kết luận trong một nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển và Việt Nam do Đại học Linköping dẫn đầu công bố tháng 7/2019. Giáo sư Håkan Hanberger, Khoa Y học lâm sàng và thử nghiệm tại Đại học Linköping chia sẻ trên trang rằng, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc cao tại các bệnh viện Việt Nam. Bệnh nhân nằm viện càng lâu thì nguy cơ bị nhiễm vi khuẩn đường ruột kháng Carbapenems càng cao. Có một số lý do tại sao Enterobacteriaceae CRE kháng Carbapenem trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Chúng kháng với hầu hết các loại kháng sinh phổ rộng, điều đó có nghĩa là nhiễm trùng do những vi khuẩn này gây ra rất khó điều trị. Ngoài ra, CRE có thể truyền gen kháng kháng sinh cho các vi khuẩn khác, khiến chúng trở nên kháng với nhóm kháng sinh nhóm carbapenem. Vi khuẩn đường ruột lây lan dễ dàng, thông qua bắt tay và đồ nội thất được sử dụng trong việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Chúng gây ra nhiều loại nhiễm trùng, chủ yếu là nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng huyết và viêm phổi. Những vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc này đang lây lan nhanh chóng trên khắp thế giới. Do đó, Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã ưu tiên cao nhất cho các biện pháp kiểm soát sự lây lan của CRE và phát triển kháng sinh mới chống lại các vi khuẩn này. Nghiên cứu được báo cáo trên Tạp chí Nhiễm trùng bao gồm hơn bệnh nhân nhập viện tại 12 bệnh viện ở nhiều vùng khác nhau của Việt Nam. Họ đã lấy bệnh phẩm từ trực tràng của các bệnh nhân và điều tra về sự hiện diện của CRE. Nếu người mang mầm bệnh thì chính là một yếu tố rủi ro gây nhiễm trùng lâm sàng, tất nhiên, không phải tất cả người mang mầm bệnh đều mắc bệnh. Các yếu tố rủi ro để trở thành người mang vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc là Ở lại bệnh viện lâu hơn và bị nhiễm trùng mắc phải trong suốt thời gian ở viện. Đáng chú ý tại bệnh viện Việt Nam, 1 trong 8 bệnh nhân 13% là người mang mầm bệnh khi nhập viện, đã tăng lên 7 trong số 8 bệnh nhân 87% chỉ sau 2 tuần nằm viện. Trong một nghiên cứu phụ có 328 trẻ mới sinh trong một đơn vị chăm sóc đặc biệt dành cho trẻ sơ sinh, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong có liên quan đến việc mang mầm bệnh CRE và bị nhiễm trùng bệnh viện khi được đưa vào đơn vị này tỷ lệ chênh lệch 5,5, p <0,01. Tỷ lệ tử vong tăng gấp 5 lần ở những trẻ bị nhiễm trùng và là trẻ mang vi khuẩn CRE. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng có một sự lây lan của vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc tại các bệnh viện Việt Nam với sự lây truyền nhanh chóng đến bệnh nhân nhập viện. Sự lây lan rộng rãi của vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem có nghĩa là phải thực hiện các biện pháp mạnh mẽ để giảm lây truyền bệnh viện, bằng cách cải thiện vệ sinh tay, thực hiện tốt các bước vô trùng trong khi phẫu thuật và khi xử lý ống thông tĩnh mạch, cách ly bệnh nhân người đã bị ảnh hưởng bởi vi khuẩn đường ruột đa kháng thuốc. Điều quan trọng là phải theo dõi hiệu quả khi bệnh nhân được xuất viện, để giảm sự lây lan của các vi khuẩn này trong cộng đồng dân cư. Tại Thụy Điển, sự hiện diện của vi khuẩn kháng carbapenem cho đến nay là cực kỳ thấp. Thụy Điển là một trong những quốc gia trên thế giới có tình trạng vi khuẩn đường ruột kháng carbapenem hạn chế. Đó là một trong những quốc gia có thể trì hoãn sự lây lan lâu nhất. Kháng kháng sinh tại Việt Nam Kháng kháng sinh ở việt nam cao nhất thế giới Trong khi nhiều quốc gia phát triển vẫn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 hiệu quả thì Việt Nam phải dùng tới kháng sinh thế hệ 3, 4. Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cảnh báo hiện kháng kháng sinh đã trở thành một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe và sự phát triển. Mối đe dọa này khiến con người dễ quay về thời kỳ chưa có kháng sinh. “Nếu tình trạng này tiếp tục, tương lai kháng sinh sẽ trở nên vô ích và con người đứng trước những căn bệnh không còn thuốc chữa”, Thứ trưởng Tiến nói, nhân Tuần lễ thế giới nâng cao nhận thức về kháng kháng sinh, ngày 13/11/2018. Tổ chức Y tế Thế giới WHO đưa Việt Nam vào nhóm các nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Bản đồ Sử dụng kháng sinh năm 2015 của Tổ chức IMS Health cũng cho thấy Việt Nam thuộc nhóm nước sử dụng nhiều kháng sinh. Trong khi nhiều quốc gia phát triển sử dụng kháng sinh thế hệ 1 vẫn hiệu quả thì Việt Nam đã phải dùng tới kháng sinh thế hệ 3 và 4. Đáng lo ngại hơn, nước ta đã xuất hiện một số loại siêu vi khuẩn kháng tất cả các loại kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra cộng đồng đã tăng gấp hai lần. Có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỷ lệ này lên đến 91%. Tình trạng kháng kháng sinh bắt nguồn từ thói quen mua thuốc không cần đơn của người dân. Thậm chí, các bác sĩ cũng sử dụng kháng sinh không hợp lý. Theo khảo sát của Bệnh viện Chợ Rẫy, khoảng một nửa thuốc kháng sinh được bác sĩ kê đơn là bất hợp lý. Nhiều bác sĩ chỉ định kháng sinh cho bệnh nhân không nhiễm khuẩn, kéo dài và không cần thiết… Phần lớn vi khuẩn đường ruột vi khuẩn gây nhiễm trùng K. pneumoniae, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện… kháng kháng sinh. Hàng năm, trên thế giới có hàng triệu người chết do kháng thuốc, trong đó có 1,4 triệu trẻ em. Nếu kháng thuốc, người bệnh phải nằm viện lâu hơn và tỷ lệ tử vong tăng ở tất cả các nhóm tuổi. WHO cũng dự báo đến năm 2050 chi phí do kháng kháng sinh trên toàn cầu lên tới 100 nghìn tỷ USD và gây ra khoảng 10 triệu ca tử vong trong mỗi năm. Hậu quả kinh tế của kháng kháng sinh được cho là nặng nề tương đương với khủng hoảng tài chính. Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã thành lập nhóm kỹ thuật giám sát kháng thuốc năm 2017 đến 2020. Nhóm này có nhiệm vụ đánh giá, giám sát về tình trạng kháng thuốc và đưa ra giải pháp ngăn chặn sự gia tăng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp.
Tình trạng đáng báo động về AMR Kể từ khi ra đời, kháng sinh đã thay đổi hoàn toàn ngành y tế, giúp cứu sống nhiều người trên toàn cầu. Tuy nhiên, chính việc lạm dụng kháng sinh trong các bệnh viện, cộng đồng và nông nghiệp đang dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh khiến cho con người phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cũng đưa ra cảnh báo tình trạng kháng thuốc kháng sinh ngày càng gia tăng và cũng nguy hiểm như đại dịch Covid-19, thậm chí có nguy cơ đảo ngược những tiến bộ y học trong một thế kỷ. Ước tính mỗi năm, khoảng người tử vong trên toàn cầu vì kháng thuốc kháng sinh. Con số này có thể tăng lên đến 10 triệu người vào năm 2050 nếu thế giới không hành động mạnh mẽ. Điều đó tiếp tục dấy lên hồi chuông cảnh báo về mức độ nguy hiểm của AMR, cần sự chung tay vào cuộc quyết liệt để ngăn chặn. Việt Nam đã thực hiện một số biện pháp để chống lại AMR như Kế hoạch Hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 - 2020, Bộ tiêu chí đánh giá bệnh viện an toàn được ban hành vào tháng 7/2020. Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh đã nhận được sự chung tay nỗ lực từ các tổ chức khác nhau, tiêu biểu là Chương trình An ninh Y tế Toàn cầu của CDC. Một chương trình giám sát quốc gia đã được khởi động từ năm 2016 với 16 phòng thí nghiệm vi sinh dưới sự quản lý của CDC. Các chương trình này đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các xu hướng kháng thuốc. Mới đây, dưới sự tài trợ của MSD, Hội đồng kinh doanh vì sự hiểu biết quốc tế BCIU đã tổ chức một diễn đàn cấp cao với chủ đề “Cuộc chiến chống lại kháng kháng sinh ở Việt Nam và Đông Nam Á” với sự tham gia của những chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam. Diễn đàn là một cuộc đối thoại mở nhằm thảo luận những thông tin mới nhất về AMR và tìm hiểu các ưu tiên của Chính phủ nhằm ngăn chặn sự tiến triển của AMR. Ngoài ra, những vấn đề khác như cơ hội hợp tác cho các bên liên quan để cùng triển khai giải pháp mới về giám sát, quản lý AMR, tiếp cận và tài trợ… cũng được đưa ra thảo luận. Cam kết hỗ trợ từ MSD Theo các chuyên gia y tế, một trong những giải pháp để đối phó với AMR là phải nghiên cứu phát triển thuốc kháng sinh mới, tuy nhiên có ít các loại kháng sinh mới và tiên tiến được giới thiệu kể từ năm 2010 cho đến nay. Các đánh giá gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Tổ chức Từ thiện Pew Pew Charitable Trusts cũng chỉ ra rằng các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực điều trị vi khuẩn vẫn chưa đủ để chống lại mối đe dọa ngày càng tăng của các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc. Trong khi nhiều công ty dược phẩm lớn đã rút khỏi việc phát triển kháng sinh do chật vật với việc thu hồi vốn đầu tư, thì MSD vẫn duy trì cam kết nghiên cứu và phát triển thuốc kháng sinh trong hơn 80 năm qua và đã đưa ra các phương pháp điều trị mới qua mỗi thập kỷ. AMR là một vấn đề phức tạp mà không có giải pháp đơn giản hoặc đơn lẻ nào có thể giải quyết được, nhưng MSD cam kết đầu tư chuyên môn và nguồn lực cùng với các đối tác để cung cấp những loại kháng sinh cần thiết. Theo đại diện MSD, trong 10 năm tới, MSD sẽ đầu tư 100 triệu USD vào Quỹ Hành động AMR vì mục tiêu chung là đưa 2 - 4 loại kháng sinh mới tới bệnh nhân và bác sĩ vào cuối thập kỷ. Ngoài ra, MSD cũng phối hợp với các cơ quan y tế công cộng, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và các công ty chẩn đoán để thông báo về việc sử dụng kháng sinh hợp lý bằng cách chia sẻ dữ liệu giám sát. Một trong những chương trình giám sát AMR lớn nhất - chương trình Giám sát xu hướng đề kháng kháng sinh SMART - đã thu thập được khoảng chủng vi khuẩn phân lập từ 217 địa điểm khác nhau ở 63 quốc gia kể từ năm 2002. Dữ liệu này có thể giúp hạn chế sự phát triển của AMR bằng cách cung cấp các phác đồ điều trị đầy đủ và hướng dẫn kê đơn để bảo đảm kháng sinh được sử dụng một cách hợp lý. Tại Việt Nam, chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh AMS của MSD đã được triển khai tại một bệnh viện lớn ở TP. Hồ Chí Minh từ năm 2012 và được mở rộng đến 17 bệnh viện trọng điểm. Năm 2020, MSD cũng đã phối hợp với Bộ Y Tế mở rộng chương trình này tại 36 bệnh viện. Nguồn MSD
Theo WHO, mối đe dọa ngày càng tăng về kháng kháng sinh ở Việt Nam bắt nguồn từ việc sử dụng kháng sinh không hợp lý ở tất cả các cấp của hệ thống chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi và cộng đồng. Siêu vi khuẩn xuất hiệnVào một ngày chủ nhật cuối tháng 5/2016, điều mà các bác sĩ lo sợ từ lâu đã đến một bệnh nhân tại Mỹ nhiễm một chủng vi khuẩn dường như hoàn toàn kháng với các loại thuốc kháng được Washington Post miêu tả là một phụ nữ 49 tuổi, sống ở bang Pennsylvania, không hề du lịch ra khỏi Mỹ trong vòng 5 tháng gần nhất, và trong nước tiểu có chứa một chủng vi khuẩn E. coli kháng lại colistin, “loại thuốc kháng sinh mạnh cuối cùng” mà con người có thể sử là dấu hiệu cảnh báo khiến các bác sĩ trên toàn thế giới và giới chức nước Mỹ không ngừng lo sợ, bởi mặc dù bản thân E. coli không được xem là một chủng đặc biệt nguy hiểm, đồng thời sau đó bệnh nhân cũng đã hồi phục và cũng không có dấu hiệu cho thấy chủng vi khuẩn của người này biến thành một dịch bệnh, nó đã gióng lên hồi chuông về một điều khủng khiếp hơn nỗi sợ hãi rằng các gen kháng kháng sinh sẽ bắt đầu nhân rộng sang những chủng vi khuẩn khác nguy hiểm tự nhiên, vi khuẩn và nấm nguồn gốc tạo ra các loại kháng sinh đã chiến đấu với nhau từ hàng trăm triệu năm. Theo thời gian, một số vi khuẩn phát triển những cơ chế để chống lại sự tấn công của nấm, chẳng hạn như làm thành tế bào dày hơn, ít thấm hơn, tăng khả năng trung hòa các enzyme do nấm tạo ra hoặc tiết ra các chất đe dọa khả năng chống chịu của vi khuẩn đã phát triển một cách vượt bậc trong thời đại kháng sinh. Khi tiếp xúc với thuốc kháng sinh thường xuyên, liên tục, phần lớn vi khuẩn gây nhiễm trùng sẽ bị tiêu diệt nhưng một số ít sống sót và dần dần tiến hóa ra các gen chống đỡ được thuốc. Quần thể vi sinh vật ngày càng được tạo nên từ các vi khuẩn mang gen kháng thuốc – gọi là “siêu vi khuẩn”. Do có cấu tạo khá đơn giản, những vi khuẩn này dễ dàng trao đổi gen với các loại vi khuẩn khác, khiến chúng phát triển khả năng kháng nhiều loại kháng sinh thực tế, những siêu vi khuẩn như vậy đã hiện diện ở Việt Nam. Tại hội nghị khoa học toàn quốc năm 2017, một nhóm các bác sĩ đã bày tỏ lo ngại về tình trạng các cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối như bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bạch Mai, Nhi Trung ương, Phổi Trung ương… đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của những vi khuẩn đa kháng kháng 2 nhóm kháng sinh trở lên và toàn kháng kháng với tất cả kháng sinh. Thậm chí đã có những bệnh nhân tử báo cáo, tỉ lệ kháng thuốc của nhóm vi khuẩn đường ruột ở Việt Nam đã lên tới 30-40%, kháng luôn cả kháng sinh mạnh nhất là colistin. Tại một số tỉnh phía Nam, tỉ lệ kháng thuốc của lên tới hơn 74%. Tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng K. pneumoniae lên tới gần 60%; trong khi vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%.Tổ chức Y tế Thế giới WHO xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ một có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ ba và bốn.“Với những trường hợp toàn kháng, bác sĩ cũng đành bất lực, chỉ có thể giúp bệnh nhân truyền dịch, nâng cao thể trạng, tăng cường dinh dưỡng để cơ thể tự chống đỡ với vi khuẩn”, TS. Đoàn Mai Phương, khi đó làm việc tại khoa vi sinh của bệnh viện Bạch Mai, chia dụng thuốc ở cả người và động vậtNhững con số trên đã lôi vấn đề kháng kháng sinh ra khỏi bóng tối để phơi bày một thực trạng chúng ta đang sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng hơn 2 lần. Hơn 70% kháng sinh trong nước hiện được dùng cho nông nghiệp, chăn nuôi và thú y, số còn lại là dùng cho Phạm Đức Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng và Hệ sinh thái ở trường ĐH Y tế công cộng, chỉ ra 3 nguyên nhân nổi trội đang làm khả năng đột biến của vi khuẩn ở Việt Nam tăng tiên, đó là việc các bác sĩ đã kê đơn quá mức và làm dụng thuốc kháng sinh. Vì thiếu năng lực của hệ thống phòng xét nghiệm nên không phải lúc nào các bác sĩ cũng có đủ thông tin để biết được vi sinh vật mà bệnh nhân bị nhiễm có mang gen kháng thuốc hay không. Do vậy, để đối phó với bệnh nhiễm trùng chưa xác định, họ thường dùng cách tiếp cận kháng sinh “bao vây” – tức kê đơn một vài ngày, nếu không khỏi thì đổi sang kháng sinh thực tế, khảo sát của Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết có khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần hai, việc quản lý thuốc kháng sinh còn khá lỏng lẻo, người dân có thể dễ dàng mua kháng sinh tại các hiệu thuốc mà không cần bác sĩ kê đơn. Tại thành thị, 88% kháng sinh được bán mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỷ lệ này là 91%- theo thống kê của Bộ Y này đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em do nhiều trẻ được các ông bố, bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua kháng sinh theo kinh nghiệm, theo lời gợi ý của người bán tại hiệu thuốc, theo đơn của người khác hay theo “bác sĩ google” – bất chấp căn bệnh đó có thực sự cần đến kháng sinh hay không. Mỗi năm, người Việt Nam tiêu thụ kháng sinh nhiều hơn gấp đôi lượng kháng sinh trung bình của người dân EU, dù có thể không ốm ba là việc sử dụng quá mức kháng sinh trong chăn nuôi với mục đích vỗ béo hoặc phòng ngừa bệnh tật. Mặc dù Bộ NN&PTNT đã đưa ra một danh sách các kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng cho chăn nuôi nhưng trên thực tế, do thiếu các cơ chế kiểm soát hiệu quả, các thương lái vẫn bán sản phẩm chứa kháng sinh trôi nổi trên thị trường để trộn vào thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản. Người chăn nuôi thường không đủ chuyên môn để biết điều này, hoặc nếu biết cũng có thể tặc lưỡi bỏ qua vì lợi ích kinh khi đó, các bác sĩ thú y vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể, hoàn thiện về sử dụng kháng sinh có trách nhiệm cho động vật. Do vậy, việc kiểm soát sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thực sự đang trông chờ vào sự tự giác của các chủ trang TS. Phúc, nếu mỗi nơi chúng ta đều sử dụng kháng sinh nhiều hơn một chút thì tổng tồn dư kháng sinh trong cộng đồng sẽ cực kì lớn và tạo ra hậu quả khôn lường. “Mọi người cứ nghĩ rằng bệnh của động vật và người là tách biệt. Nhưng khi con người và động vật cùng chia sẻ các loại vi khuẩn với nhau, thì sớm hay muộn, các siêu vi khuẩn mang gen kháng thuốc cũng sẽ phát triển được khả năng lây chéo từ loài này sang loài khác. Viễn cảnh tồi tệ nhất chính là tình trạng không còn thuốc nào để chống lại vi khuẩn gây bệnh,” anh lo một sự liên kết mạnh mẽ hơnCác nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết các giải pháp mà chúng ta dùng cho các đại dịch đều có thể áp dụng cho cuộc chiến với kháng kháng sinh. Chẳng hạn, ta phải có hệ thống giám sát và các phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn để lập bản đồ theo dõi tình trạng sử dụng kháng sinh cũng như cảnh báo về sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, cần tăng độ bao phủ vaccine để tránh mắc các bệnh do vi khuẩn gây nên. Ngoài ra, còn cần thực hiện an toàn sinh học và kiểm soát nhiễm trùng để ngăn vi khuẩn kháng thuốc lây lan trên diện rộng, và đầu tư vào các nghiên cứu kháng kháng sinh cũng như tác động của chúng tới kinh tế - xã hội để cung cấp thông tin đúng đắn cho các nhóm đối cấp độ quốc gia, Chính phủ và các bộ ngành có thể làm rất nhiều việc để khuyến khích sử dụng kháng sinh một cách thích hợp và có trách nhiệm. Một số người gọi đây là quản lý kháng sinh, nhưng thực sự nó chính là việc chỉ dùng kháng sinh khi chúng thật sự cần nhiều cách để đạt được điều này, chẳng hạn như thiết lập các quy định bắt buộc phải có kê đơn bác sĩ mới được sử dụng kháng sinh, cung cấp cho bác sĩ những công cụ chẩn đoán chính xác để đảm bảo rằng bệnh nhân nhiễm trùng thực sự do vi khuẩn kháng thuốc trước khi kê đơn, hoặc thực hiện các chiến dịch thông tin đại chúng về mối hiểm họa của tình trạng kháng kháng sinh cho người nhà quản lý cũng có thể thúc đẩy việc cải tiến các hệ thống sản xuất – chẳng hạn như giảm mật độ chăn nuôi và sử dụng các giống khỏe mạnh hơn – để giảm nhu cầu về kháng sinh trên động vật, hay hướng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đầu tư vào những sản phẩm thay thế kháng sinh. Những năm gần đây, một vài công ty đã bắt tay với các trang trại bản địa để thử nghiệm những sản phẩm từ bồ công anh, tỏi, lá ổi, quế… nhằm chứng minh có thể nuôi lớn những đàn lợn, gà lớn mà không cần đưa chúng vào chế độ ăn kèm kháng nguồn tài chính từ các tổ chức quốc tế từ Mỹ, Anh cùng hỗ trợ kỹ thuật của WHO và FAO, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Tây Thái Bình Dương thực hiện "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc" tập trung vào sức khỏe con người giai đoạn 2013-2020 và hai lần đưa ra "Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản" giai đoạn 2017-2020 và giai đoạn 2021-2025.Trong hơn 10 năm, các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng ngăn chặn việc lạm dụng kháng sinh. Mặc dù vậy, hiệu quả đạt được chưa thực sự rõ rệt. Ngành y tế đã đặt ra mục tiêu chỉ bán kháng sinh khi có đơn thuốc vào năm 2020 nhưng hiện giờ đến năm 2022 vẫn chưa thành công. Tương tự, ngành chăn nuôi cũng dự kiến cấm sử dụng thức ăn chăn nuôi có pha trộn kháng sinh cho mục đích sinh trưởng từ năm 2018, và sẽ cấm sử dụng cho mục đích dự phòng bệnh từ năm 2020, tuy nhiên tiến trình còn đang gặp nhiều thách số bệnh viện lớn tham gia các dự án cho thấy có sự cải thiện về tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong điều trị. Ngoài ra, không có báo cáo công khai nào về giảm sử dụng kháng sinh trong ngành nông nghiệp hoặc trong cộng các chuyên gia dịch tễ toàn cầu, “Một sức khỏe” được coi là cách tiếp cận lý tưởng nhất để chống lại các bệnh dịch và tình trạng kháng kháng sinh vì chúng đặt tất cả sức khỏe của con người, động vật và môi trường trong một mối quan tâm góc nhìn thực hành một sức khỏe ở Việt Nam, TS. Phúc nói rằng dù đã tạo được các nền tảng căn bản, chúng ta vẫn còn vướng nhiều rào cản về nguồn lực đầu tư hỗ trợ nước ngoài không thay thế được ngân sách công, chia sẻ thông tin không dễ liên thông dữ liệu giữa các dự án, phòng thí nghiệm, bệnh viện, viện trường, cơ quan, bộ ngành và tư duy tích hợp các bên ngồi lại để cùng thiết kế ra các chương trình hành động thống nhất để có thể tạo ra những liên kết đủ mạnh giải quyết vấn đề nhức nhối này.
Tổ chức Y tế Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng gấp 2 lần. Nguyên nhân chính là do lạm dụng kháng sinh, có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán ra mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỉ lệ lên đến 91%. Đã xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả các loại kháng sinh! Tại một hội nghị của Bộ Y tế về kháng thuốc cuối tháng Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, tình trạng kháng thuốc ngày càng trầm trọng và là mối nguy sức khoẻ toàn cầu. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh gây tác động lớn đến nền kinh tế, sự phát triển chung của xã hội. Không chỉ riêng đối với Việt Nam nó còn tác động đến tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Tình trạng kháng kháng sinh tại Việt Nam ngày càng gia tăng khi xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại thuốc. Tại hội nghị khoa học toàn quốc về hồi sức cấp cứu và chống độc 2017, GS Nguyễn Gia Bình – Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc – bày tỏ lo ngại về tình trạng kháng kháng sinh tại nước ta. Theo ông, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của các vi khuẩn kháng nhiều nhóm kháng sinh. Trong đó tình hình kháng thuốc tại các tỉnh phía Nam nghiêm trọng hơn. Tại các khoa hồi sức tích cực, vấn đề này còn nan giải hơn, do nơi đây tập trung những bệnh nhân nặng nhất, qua nhiều khoa điều trị. Tại các tỉnh phía Nam, tỉ lệ Ecoli vi khuẩn đường ruột kháng kháng sinh lên tới 74,6%; tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng lên tới gần 60%; vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện có tỉ lệ kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%… Với nhóm kháng sinh carbapenem, nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay cũng có tỉ lệ lên tới 50%, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm mang gen kháng thuốc như Beta lactamase. PGS-TS Lương Ngọc Khuê – Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế – cho biết, trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ 3 và 4. Đáng lo ngại hơn, ở nước ta đã xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Tình trạng các bác sĩ sử dụng kháng sinh không hợp lý cũng được cảnh báo. Theo khảo sát của BV Chợ Rẫy, khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần thiết… Trong khi tốc độ tìm ra kháng sinh mới trên thế giới không kịp so với mức độ gia tăng của các vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong hơn 5 năm từ 1983 – 1987, cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ mới chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng cho 18 loại kháng sinh. Còn từ năm 2008 đến nay không có thêm kháng sinh mới nào được tìm ra. Với tình hình này, WHO dự tính đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có một người do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm. Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một cũng có thể gây Để hạn chế tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định thành lập nhóm kỹ thuật về giám sát kháng thuốc giai đoạn từ năm 2017-2020. Nhóm sẽ có nhiệm vụ tham gia phối hợp, đánh giá, báo cáo giám sát về kháng thuốc và đưa ra các giải pháp ngăn chặn sự gia tăng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp. Lo ngại kháng kháng sinh ở trẻ nhỏ! Ở trẻ nhỏ, tình trạng kháng kháng sinh cũng vô cùng Từ kết quả khám sàng lọc bệnh nhi đến khám và điều trị tại viện, PGS-TS Trần Minh Điển – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương – cho biết có khoảng 30% bệnh nhi có vi khuẩn kháng thuốc. Một trong những nguyên nhân làm trẻ có vi khuẩn kháng thuốc là do nhiều trẻ được các ông bố bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua thuốc điều trị với liều lượng kháng sinh không hợp lý. Thực tế thăm khám cho các bệnh nhi, PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng – nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – đã gặp rất nhiều trường hợp cha mẹ tự làm bác sĩ, tự ý mua thuốc điều trị cho con làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ và gây khó khăn cho quá trình điều trị của bác sĩ. Bởi, việc cha mẹ tự ý cho trẻ dùng thuốc kháng sinh, dùng với liều lượng không thích hợp sẽ gây ra tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. Điều này sẽ làm cho quá trình điều trị bệnh trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều thời gian hơn và làm trẻ mệt mỏi hơn. “Để kê được đơn thuốc cho bệnh nhân, bác sĩ chúng tôi phải học hỏi, trau dồi kỹ năng rất nhiều năm. Và kể cả những người đã có kinh nghiệm cũng phải thăm khám, hỏi han triệu chứng của bệnh nhân, rồi sau đó phải đắn đo, suy nghĩ mới kê được đơn thuốc” – bác sĩ Dũng cho biết. Đồng quan điểm với bác sĩ Dũng, bác sĩ Phạm Thanh Xuân – nguyên Phó Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – cũng cho rằng, cha mẹ áp dụng phương pháp hỏi “bác sĩ google” rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh là rất nguy hiểm. Không phải bệnh gì dùng thuốc kháng sinh cũng khỏi, nếu dùng không đúng sẽ đến sức khỏe. Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, việc kháng sinh trong điều trị bệnh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe của trẻ. Không thể thấy các biểu hiện của bé giống bệnh này rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh. Hoặc không nên thấy các mẹ khác nói con họ bị như vậy dùng thuốc này là khỏi mà nghe theo và áp dụng vào con mình. Mỗi đứa trẻ là một cá thể khác nhau, phản ứng mỗi bé một khác, yếu tố cơ địa mỗi bé một khác nên cùng một bệnh nhưng với mỗi bé lại có cách điều trị riêng. Bác sĩ Xuân lấy ví dụ trường hợp bé chỉ xuất tiết mũi họng khò khè không phải do nhiễm khuẩn. Với trường hợp này mà dùng kháng sinh thì chắc chắn bé sẽ không đỡ và sẽ tái phát theo nguyên nhân gây nên yếu tố khò khè. Và cũng là dấu hiệu khò khè, chảy nước mũi kéo dài nhưng bé có tiền sử hen phế quản thì cách điều trị lại khác với bé không bị hen phế quản. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh không hiểu biết hoặc không tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, tình trạng thuốc, không đến khám bác sĩ mà tự ý ra hiệu thuốc mua thuốc về điều trị, mua thuốc theo đơn của người khác hoặc nghe theo sự mách bảo của người khác… cũng góp phần làm gia tăng số lượng và mức độ các trường hợp dị ứng thuốc. Và hậu quả của việc thuốc dẫn đến kháng thuốc là làm cho thời gian điều trị bệnh kéo dài, kéo theo sử dụng nhiều kháng sinh, sẽ lại ảnh hưởng đến kinh tế, giá thành điều trị tăng cao. Đặc biệt, nhiều khuẩn kháng thuốc còn khiến nguy cơ tăng cao, nhất là với Cre Thùy Linh – Báo Lao ĐộngShared by Phong Tuan/Gr Maybe You Missed This F***king News Post Views 85
kháng kháng sinh ở việt nam