Tiếp theo, để học, ôn tập kiến thức bài Bình Ngô Đại Cáo, các em có thể tham khảo dàn ý + văn mẫu bài phân tích đoạn 1 Bình Ngô Đại Cáo. Đọc, tham khảo nội dung bài viết, các em có thể thấy, cảm nhận rõ hơn tư tưởng nhân nghĩa, lòng tự hào, tự tôn dân tộc của
Tham khảo Dàn ý chi tiết phân tích phần mở đầu Tuyên ngôn độc lập liên hệ với Đại cáo bình Ngô, qua đó nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo! Mục lục bài viếtDàn ý
Cấu hình của dàn karaoke cao cấp 2020 - 11 bao gồm Loa Alto TX212 (2 chiếc) Vang số chỉnh cơ BK sound DSP9000 (1 chiếc) Loa sub Alto TS312S (1 chiếc) Micro không dây BCE UGX12 (1 đầu thu + 2 tay micro) Chi tiết từng sản phẩm của bộ dàn Loa Alto TX212. Alto TX212 mang phong cách thiết kế hiện đại, tinh tế trong từng đường nét, sử
Dàn ý phân tích đoạn thơ thứ 2 trong Bình Ngô đại cáo. 2. Em hãy bình giảng đoạn 2 của Bình Ngô đại cáo Đặc biệt, tác phẩm "Đại cáo bình Ngô" được xem như "bản tuyên ngôn độc lập thứ hai" của dân tộc có giá trị cả về mặt chính trị, lịch sử lẫn văn
Cập nhật: Thứ năm , 15/09/2022 20:21. Vở diễn "Traviata", một chương trình múa đương đại độc đáo lấy cảm hứng từ vở opera của nhà soạn nhạc vĩ đại người Ý (Italia) Giuseppe Verdi và được trình diễn bởi vũ đoàn nổi tiếng thế giới của Italia "Artemis Danza" sẽ
Ý nghĩa của từ Giác Ngộ:. Để nhớ đến hành trạng tu hành cũng như sự nghiệp một đời hoằng hóa của các vị Tổ Sư, cao tăng thạc đức Phật giáo, nên nơi nào tổ chức được Đại Giới Đàn đều lấy tên vị Tổ Sư hoặc Cao Tăng ở địa phương đó mà đặt tên cho Giới Đàn.. Theo truyền thống của thiền
Cảm hứng độc lập dân tộc và tương lai đất nước trong "Bình Ngô đại cáo" Hướng dẫn Trong lời kết thúc bài Đại cáo, quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi thay Lê Lợi trịnh trọng và vui mừng truyền đi tuyên bố nền độc lập tự do của dân tộc đã được lặp lại: Xã tắc từ đây vững bền. Giang sơn từ đây đổi mới Càn khôn bĩ mà lại thải Nhật nguyệt hối mà lại minh
Dàn ý thuyết minh về Bình Ngô Đại Cáo Dàn ý số 1 I. Mở bài: - Dẫn dắt vấn đề: Khái quát về tác giả, tác phẩm, trị giá nội dung, nghệ thuật của bài Bình Ngô đại cáo. II. Thân bài: - Nêu luận đề chính nghĩa: Mấu chốt nhơn nghĩa chính là yên dân và trừ bạo.
. 1. Hướng dẫn lập dàn Phân tích Xác lập luận điểm, luận Sơ đồ tư Chi tiết dàn ý2. Bài làm mẫuTài liệu hướng dẫn làm văn phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm gợi ý cách làm bài, dàn ý chi tiết cùng tuyển tập những bài văn hay phân tích nội dung bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn đang xem Dàn ý đại cáo bình ngôCùng tham khảo ngay...1. Phân tích đề- Kiểu bài dạng bài phân tích tác phẩm văn Vấn đề nghị luận nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô đại Phạm vi dẫn chứng, tư liệu các căn cứ, hình ảnh, chi tiết,... thuộc phạm vi văn bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn thêm Soạn Bài Danh Từ, Trang 87 Sgk Ngữ Văn 6, Top 6 Bài Soạn Danh Từ Lớp 6 Hay Nhất2. Xác lập luận điểm, luận cứ- Luận điểm 1 Tiền đề lí luận+ Tư tưởng nhân nghĩa+ Chân lí về độc lập dân tộc- Luận điểm 2 Soi chiếu lí luận vào thực tiễn+ Tội ác của giặc Minh+ Lòng căm thù giặc của nhân dân- Luận điểm 3 Diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn+ Hình tượng người anh hùng Lê Lợi+ Các giai đoạn của cuộc khởi nghĩa Lam Luận điểm 4 Niềm tin, ý Sơ đồ tư duy4. Chi tiết dàn ý phân tích Bình Ngô đại cáoa Mở bài- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm+ Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.+ Bình Ngô đại cáolà áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân thêm Hình Ảnh Nàng Tô Thị Xuất Hiện Trong Bài Hát Nào Của Ban Nhạc Bức Tường?b Thân bài* Tiền đề lí luận- Tư tưởng nhân nghĩa+ “Nhân nghĩa” là phạm trù tư tưởng của Nho giáo chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí. + “Nhân nghĩa” trong quan niệm của Nguyễn TrãiKế thừa tư tưởng Nho giáo “yên dân” – làm cho cuộc sống nhân dân yên ổn, hạnh phúcCụ thể hóa với nội dung mới đó là trừ bạo – vì nhân dân diệt trừ bạo tàn, giặc xâm lược.=> Với nét nghĩa tiến bộ, mới mẻ Nguyễn Trãi đã bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh đồng thời phân biệt rõ ràng ta chính nghĩa, địch phi nghĩa.=> Tạo cơ sở vững chắc cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn – là cuộc khởi nghĩa nhân nghĩa, vì cuộc sống của nhân dân mà diệt trừ bạo tàn. - Chân lí về độc lập dân tộc+ Nguyễn Trãi đã xác định tư cách độc lập của nước Đại Việt bằng một loạt các dẫn chứng thuyết phụcNền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ riêng biệt,Phong tục Bắc Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộcLịch sử lâu đời trải qua các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần, hào kiệt đời nào cũng làm mẫu phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiNguyễn Trãi danh nhân văn hóa thế giới, ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Bên cạnh những tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, còn có những tác phẩm giàu tính chiến đấu, và một trong những tác phẩm đó không thể không nhắc đến Bình Ngô đại cáo. Tác phẩm là bản tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Minh đầy gian lao mà cũng vô cùng hào hùng của dân 1427, nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi huy hoàng, đã tiêu diệt viện binh của giặc. Lúc này, Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông Quan để chờ hai đạo viện binh do hai tướng giỏi của nhà Minh chỉ huy là Liễu Thăng và Vạn Thạnh, nhưng hai đạo quân này đã bị quân ta chặn đánh, Vương Thông viết thư xin hàng và rút quân về nước. Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” để tuyên bố với toàn dân về việc dẹp yên giặc Ngô. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc, được ban bố vào đầu năm đầu của tác phẩm, Nguyễn Trãi nêu lên luận đề chính nghĩa Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Nhân nghĩa vốn được hiểu là lòng yêu thương con người. Nhưng với Nguyễn Trãi, yêu thương ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể “cốt ở yên dân”, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, mà trước hết là phải trừng trị kẻ có tội, bấy giờ chính là giặc Minh xâm lược. Như vậy, nhân nghĩa của ông xuất phát từ lòng yêu dân, mong cho dân có cuộc sống yên ổn. Đây là tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên người dân xuất hiện với vị trí quan trọng trong văn kiện có tầm cỡ thời tiếp theo, ông đưa ra năm yếu tố cơ bản để khẳng định sự tồn tại có chủ quyền của nước Đại Việt. Nền độc lập của ta được dựa trên Cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, truyền thống lịch sử và chủ quyền riêng “mỗi bên xưng đế một phương”. Nguyễn Trãi đã hoàn thiện quan niệm về quốc gia, dân tộc. Đây là bước tiến dài so với bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất – Nam quốc sơn khi nêu lên luận đề chính nghĩa, bằng giọng văn đanh thép Nguyễn Trãi đã vạch trần tội ác của giặc Minh. Để tố cáo tội ác của chúng, ông đứng trên lập trường dân tộc, sử dụng ngôn ngữ hết sức chuẩn xác nhân, thừa cơ cho thấy luận điệu bịp bợm của giặc Minh phù Trần diệt Hồ. Không chỉ vậy ông còn đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo tội ác của kẻ thù khi chúng cai trị nhân dân ta. Chúng hủy hoại cuộc sống của con người bằng những hành động hết sức dã man Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ. Không dừng lại ở đó chúng còn hủy hoại môi trường sống của muôn loài cây cỏ; Các chính sách thuế khóa nặng nề, vơ vét cho bằng hết sản vật của nước ta, tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, tiêu diệt đường sống muôn loài. Chúng sử dụng dân ta như một công cụ để phục dịch cho chúng người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,… Những tội ác của chúng thấu đất, vang tới tận trời xanh, không thể dung thứ Lẽ nào trời đất dung tha/ Ai bảo thần nhân chịu được. Câu hỏi vang lên như một lời cảnh cáo, cũng thể hiện niềm đau xót của tác giả trước thảm cảnh mà nhân dân phải hứng chịu. Với những hình ảnh đối lập tương phản, giàu giá trị gợi cảm tác giả đã tố cáo một cách đanh thép nhất tội ác của kẻ những lời văn thống thiết, nhưng cũng đầy mạnh mẽ, tiếp đến Nguyễn Trãi kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và thắng lợi tất yếu của quân dân ta. Trong những buổi đầu khởi nghĩa, tình thế quân ta hết sức khó khăn, quân thù đang vào thời điểm mạnh nhất, quân ta thì Tuấn kiệt như sau buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu. Tương quan đó khiến cuộc khởi nghĩa càng trở nên khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Lê Lợi, quân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Lê Lợi là người có lòng căm thù giặc sâu sắc Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không chung sống và ông mang trong mình lòng quyết tâm lớn tiêu diệt quân xâm lược, mang lại bình yên cho nhân dân. Ông không chỉ coi trọng người hiền tài mà còn coi trọng vai trò của nhân dân Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới. Tất cả người dân nhỏ bé, thấp kém nhất đều được tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi. Đây là lần đầu tiên người dân được đưa vào vị trí trang trọng đến vậy. Điều đó đã tạo nên sự thống nhất một lòng, đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kết đó đã đem lại hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho nhân dân ta Đánh một trận, sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận, tan tác chim muông/ Nổi gió to trút sạch lá khô/ Thông tổ kiến phá toang đê tuyên bố chiến thắng, mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc thật dõng dạc, tràn đầy niềm tự hào Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới, đất nước ta bước vào thời kì tự chủ, thịnh vượng dưới triều đại mới. Đồng thời ông cũng rút ra những bài học lịch sử Kiền khôn bĩ rồi lại thái/ Nhật nguyệt hối rồi lại minh, để khẳng định niềm tin vào vận mệnh mới của dân tộc sau khi đã trải qua những cơn bĩ cực. Đồng thời ông cũng khẳng định, chiến thắng chúng ta có được là nhờ sự kết hợp sức mạnh của thời đại và sức mạnh truyền thống dân tộc Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như bản là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương. Kết cấu văn bản chặt chẽ, lập luận vô cùng sắc bén, lời văn đanh thép tố cáo tội ác giặc, hùng hồn, hào sảng khi nói về chiến công của nhân dân ta. Nhưng bên cạnh đó cũng đậm chất văn chương nghệ thuật với những câu văn giàu cảm xúc, giàu hình tượng, giàu giá trị tạo hình, gây ám ảnh sâu sắc với người phẩm là bài ca ngợi ca cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thần kì đã chấm dứt sự xâm lược của giặc Minh. Đồng thời cũng là bản tố cáo đanh thép, dõng dạc những tội ác mà giặc Minh phạm với nhân dân ta. Bên cạnh đó Đại cáo Bình Ngô còn là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn bất hủ của muôn vọng rằng dàn ý phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi cùng bài tham khảo trên đây sẽ giúp các em hoàn thành bài làm của mình một cách hoàn thiện và thuận lợi nhất. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 10 khác được cập nhật thường xuyên tại Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao nhé!
Dàn ý đoạn 2 Bình ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi gồm 5 dàn ý ngắn gọn, chi tiết đầy đủ nhất. Qua 5 dàn ý phân tích đoạn 2 Bình ngô Đại Cáo giúp các bạn bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý để viết bài văn phân đang xem Dàn ý phân tích bình ngô đại cáoĐoạn 2 Bình ngô Đại Cáo giúp chúng ta thấy được tội ác của quân Minh gây ra cho đất nước ta đếm không xuể, chính chúng đã khiến ta rơi vào cảnh nước mất nhà tan nên không bao giờ có thể tha thứ. Vậy sau đây là 5 dàn ý đoạn 2 Bình ngô Đại cáo, mời các bạn cùng theo dõi tại Dung Bài ViếtDàn ý phân tích đoạn hai Bình ngô Đại CáoDàn ý đoạn 2 Bình ngô Đại cáo ngắn gọn1, Mở bài– Giới thiệu tác giả, tác phẩm2, Thân bài* Bản cáo trạng đanh thép vạch rõ tội ác của quân xâm lược nhà Minh.– Nguyễn Trãi đã lột trần âm mưu thâm độc của chúng lợi dụng nhà Hồ chính sự đổ nát, giặc Minh đã thừa cơ vào cướp nước ta“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,Để trong nước lòng dân oán cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh”.=> Trong suốt hai mươi năm đô hộ nước ta 1407-1427, chính quyền đô hộ nhà Minh đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp từ tinh vi đến trắng trợn nhằm xóa bỏ quá khứ đấu tranh, dựng nước và giữ nước bất khuất của dân tộc ta, thủ tiêu những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của nhân dân Đại Việt để chiếm đóng vĩnh viễn đất nước ta.– Tác giả đã khẳng định đó là tội ác “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời” và kể ra những hành động dã man của bọn dân đen trên ngọn lửa hung tàn,Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.=> Đây là hình ảnh vừa cụ thể, vừa khái quát như một lời cáo trạng, lời buộc tội quân giặc.– Đứng trên lập trường nhân nghĩa, đoạn văn là máu, là nước mắt, thể hiện sự căm hận sục sôi của Nguyễn Trãi đối với kẻ Kết bài– Khẳng định lại giá trị của bài thơ– Tình cảm của em dành cho bài thơDàn ý phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại CáoI. Mở bài– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm Đại cáo bình Ngô và nội dung đoạn Thân bàiTác giả vạch trần tội ác của giặc Minh với một trình tự logic– Tác giả chỉ rõ âm mưu xâm lược của giặc MinhVạch trần luận điệu “phù Trần diệt Hồ” của giặc Minh việc nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần chỉ là một nguyên cớ để giặc Minh thừa cơ gây họa, mượn gió bẻ măngÂm mưu muốn thôn tính đất nước ta vốn đã có sẵn, có từ lâu.– Tác giả vạch trần những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc MinhThu thuế khóa nặng vét sản vật, bắt chim trảÉp người làm những việc nguy hiểm dòng lưng mò ngọc, đãi cát tìm vàng,….– Tác giả tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác của hoại cuộc sống con người bằng hành động diệt chủng, tàn sát người dân vô tội nướng dân đen, vùi con đỏ,…Hủy hoại cả môi trường sống Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ=> Đây là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc MinhIII. Kết bàiKhẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích, nêu chủ đề của đoạn ý đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo1. Mở bàiGiới thiệu về tác gia Nguyễn Trãi Là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ quát về tác phẩm Là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân thiệu nội dung đoạn thơ thứ hai Tố cáo tội ác của quân giặc2. Thân bàiNêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩmKhái quát nội dung đoạn thơ thứ nhất và dẫn ra nội dung của đoạn thơ thứ hai Tố cáo tội ác của quân giặca. Tội ác của giặc Minh.– Tội ác xâm lược Từ “nhân, thừa cơ” cho thấy sự cơ hội, thủ đoạn của giặc Minh, chúng mượn chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để gây chiến tranh xâm lược nước ta.=> Vạch trần luận điệp bịp bợm, cướp nước của giặc Minh.– Tội ác với nhân dânKhủng bố, sát hại người dân vô tội Nướng dân đen, vùi con đỏBóc lột bằng thuế khóa, vơ vét tài nguyên, sản vật nước taPhá hoại môi trường, tiêu diệt sự sốngBóc lột sức lao động, phá hoại sản xuất.=> Sử dụng biện pháp liệt kê tố cáo những tội ác dã man của giặc.=> Gợi hình ảnh đáng thương, tội nghiệp, khổ đau của nhân dân=> Nỗi xót xa, đau đớn, thương cảm đối với nhân dân, sự căm phẫn đối với kẻ thù của tác Lòng căm thù giặc của nhân dân.– Hình ảnh phóng đại “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” lấy cái vô cùng của tự nhiên để nói về tội ác của giặc Minh.– Câu hỏi tu từ “lẽ nào…chịu được” Tội ác không thể dung thứ của giặc.=> Thái độ căm phẫn, uất nghẹn không bao giờ tha thứ của nhân dân ta⇒ Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh3. Kết bàiKhẳng định giá trị của đoạn thơKhẳng định tài năng của Nguyễn Trãi trong việc viết ” Bình Ngô đại cáo “.Dàn ý phân tích tội ác của giặc Minh1. Mở bàiGiới thiệu khái quát về nội dung tác phẩm Bình Ngô đại cáo Là áng thiên cổ hùng văn, là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộcKhái quát nội dung khổ 2 Phản ánh sự tàn ác của giặc Minh những năm tháng đô hộ nước ta, càng thấm thía hơn nỗi đau mất nước2. Thân bài* Luận điệu xảo trá của giặc MinhCó âm mưu cướp nước ta từ lâu nhưng sợ người đời “dị nghị” nên mượn cớ “phù Trần, diệt Hồ” để bịp bợm thiên hạTrong khi đó, “bọn gian tà bán nước cầu vinh”, bán cả tự tôn dân tộc để lấy chút lợi nhỏ=> Nhân dân phải chịu tình cảnh “thù trong, giặc ngoài”* Tội ác của giặcTàn sát, âm mưu diệt chủng những kẻ kháng cự bằng những phương thức dã man, rùng rợn “Nướng dân đen…”, “vùi con đỏ…”, liên tiếp “dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế”, gieo rắc thù oán hết gần 20 nămBóc lột, hành hạ nhân dân bằng đủ các loại thuế khóa, đẩy người dân vào chỗ hiểm nguy, biến nhân dân thành nô lệ phục vụ mục đích của chúng “Nặng thuế khóa… nơi nơi cạm đặt”Hình ảnh quân cướp nước hiện lên “Thằng há miệng… chưa chán”, ngang ngược bạo lực…* Hậu quả để lạiMôi trường bị hủy hoại, tàn phá nặng nềCỏ cây, chim muông không có chỗ trú ngụPhụ nữ thành kẻ góa bụaGia đình đang yên ổn canh cửi nay cũng thuận đà tan tác cả.=> Sự tàn độc của giặc Minh được Nguyễn Trãi dùng những cái vô cùng, vô tận của thiên nhiên mà so sánh “Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”…– Nỗi đau xót, căm phẫn đến tận cùng của tác giả “Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?”3. Kết bàiKhẳng định lại vấn đề Phần hai của Bình Ngô đại cáo như một lời buộc tội đầy đanh thép của “quan tòa” dành cho “kẻ phạm tội”.Dàn ý phân tích đoạn hai Bình ngô Đại Cáo1. Mở bài Phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại CáoGiới thiệu sơ lược về tác giả,tác phẩm, đoạn cần phân tíchNêu qua hoàn cảnh lịch sử tạo nên tác phẩm2. Thân bài Phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại CáoCó thể khẳng định đoạn đầu là tư tưởng nhân nghĩa mới mẻ là cơ sở để khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc. Tư tường này xuất phát từ thực tiễn tình hình của đất nước được Nguyễn Trãi khái quát sâu sắc như một chân lý. Chân lý đó khẳng định nhân nghĩa chính là chống quân xâm lược, có như vậy mới vạch trần được luận điệu xảo trá của chúng được tác giả nêu lên ở đoạn hai. Đoạn hai của tác phẩm là bản cáo trạng về tội ác của Giặc Minh. Tố cáo những chủ trương cai trị tàn sát của giặc MinhTàn sát người vô tộiBóc lột dã man, đánh thuế, phu phen,…Hủy diệt cả môi trường sống⇒ Tội ác tày trời, một lũ giặc vô nhân đạo– Có những tội ác của kẻ thù thì cái nhân nghĩa mà tác giả đưa ra mới càng thể hiện được tính đúng đắn của nó. Bởi lẽĐộc lập chủ quyền của chúng ta có tính chất thiên nhiên, từ trước, vốn cóKhẳng định chủ quyền như bao dân tộc khác là chúng ta có phong tục riêng, lịch sử riêng, hào kiệt trước này chưa bao giờ văn hiến của ta thì đã có từ hàng ngàn năm lịch sử đây là yếu tố cơ bản để xác định chủ quyền dân tộc. Bất kể quân xâm lược nào cũng đều tìm cách để phủ định sự thật hiển nhiên này.– Nguyễn Trãi đã vạch trần luận điệu bịp bợm của giặc và chỉ rõ âm mưu cướp nước ta của chúng. Chúng lược chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” nhưng thực chất là để cướp nước ta– Tội ác mà chúng gây ra với chúng ta là vô cùng độc ác và dã man.– Trước nỗi khổ, sự khó khăn cùng cực của nhân dân, tác giả vô cùng đau đớn, cả bài là sự căm giận tội ác của địch, đồng cảm và xót xa trước những đau thương mà nhân dân ta phải chịu thuật so sánh Tội ác của giặc cao tựa núi Nam Sơn; sự dơ bẩn của giặc nhiều bằng nước Đông Hải. Dùng cái vô hạn nói cái vô hạn, tội ác của chúng những cái vô cùng cũng không thể miêu tả, không thể chứa đựng được Kết bài Phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại CáoNêu lại khái quát ý nghĩa của tác phẩm và cảm nhận của bản thânKhẳng định lại tội ác không thể chối cãi của giặc Minh và sự tài tình của Nguyễn Trãi trong việc vạch tội kẻ thù khẳng định chủ quyền cho dân thêm Soạn Văn Lớp 9 Bài Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới, Soạn Bài Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ MớiVăn mẫu lớp 10 Dàn ý phân tích đoạn 2 Bình ngô Đại Cáo 5 Mẫu Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn TrãiDàn ý đoạn 2 Bình ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi gồm 5 dàn ý ngắn gọn, chi tiết đầy đủ nhất. Qua 5 dàn ý phân tích đoạn 2 Bình ngô Đại Cáo giúp các bạn bao quát được những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ cần triển khai, tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý để viết bài văn phân tích.Văn mẫu lớp Dàn phân tích đoạn Bình ngô Đại Cáo Mẫu Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi
Tài liệu hướng dẫn làm văn phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm gợi ý cách làm bài, dàn ý chi tiết cùng tuyển tập những bài văn hay phân tích nội dung bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn tham khảo ngay...Hướng dẫn lập dàn ý phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo1. Phân tích đề- Kiểu bài dạng bài phân tích tác phẩm văn Vấn đề nghị luận nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Bình Ngô đại Phạm vi dẫn chứng, tư liệu các căn cứ, hình ảnh, chi tiết,... thuộc phạm vi văn bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Xác lập luận điểm, luận cứ- Luận điểm 1 Tiền đề lí luận+ Tư tưởng nhân nghĩa+ Chân lí về độc lập dân tộc- Luận điểm 2 Soi chiếu lí luận vào thực tiễn+ Tội ác của giặc Minh+ Lòng căm thù giặc của nhân dân- Luận điểm 3 Diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn+ Hình tượng người anh hùng Lê Lợi+ Các giai đoạn của cuộc khởi nghĩa Lam Luận điểm 4 Niềm tin, ý Sơ đồ tư duy4. Chi tiết dàn ý phân tích Bình Ngô đại cáoa Mở bài- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm+ Nguyễn Trãi là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba, nhà văn nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.+ Bình Ngô đại cáolà áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn hùng hồn của dân Thân bài* Tiền đề lí luận- Tư tưởng nhân nghĩa+ “Nhân nghĩa” là phạm trù tư tưởng của Nho giáo chỉ mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí. + “Nhân nghĩa” trong quan niệm của Nguyễn TrãiKế thừa tư tưởng Nho giáo “yên dân” – làm cho cuộc sống nhân dân yên ổn, hạnh phúcCụ thể hóa với nội dung mới đó là trừ bạo – vì nhân dân diệt trừ bạo tàn, giặc xâm lược.=> Với nét nghĩa tiến bộ, mới mẻ Nguyễn Trãi đã bóc trần luận điệu xảo trá của giặc Minh đồng thời phân biệt rõ ràng ta chính nghĩa, địch phi nghĩa.=> Tạo cơ sở vững chắc cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn – là cuộc khởi nghĩa nhân nghĩa, vì cuộc sống của nhân dân mà diệt trừ bạo tàn. - Chân lí về độc lập dân tộc+ Nguyễn Trãi đã xác định tư cách độc lập của nước Đại Việt bằng một loạt các dẫn chứng thuyết phụcNền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ riêng biệt,Phong tục Bắc Nam phong phú, đậm đà bản sắc dân tộcLịch sử lâu đời trải qua các triều đại Triệu, Đinh, Lí, Trần, hào kiệt đời nào cũng có.=> Bằng cách liệt kê tác giả đưa ra các chứng cứ hùng hồn, thuyết phục khẳng định dân tộc Đại Việt là quốc gia độc lập, đó là chân lí không thể chối cãi.+ Các từ ngữ “từ trước, đã lâu, vốn xưng, đã chia” đã khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của Đại Việt.+ Thái độ của tác giảSo sánh các triều đại của Đại Việt ngang hàng với các triều đại của Trung các vị vua Đại Việt là “đế” Trước nay hoàng đế phương Bắc chỉ xem vua nước Việt là Vương.=> Thể hiện ý thức về chủ quyền độc lập cao độ của tác Sử dụng phép liệt kê, dẫn ra những kết cục của kẻ chống lại chân lí Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã,...=> Là lời cảnh cáo đanh thép, đồng thời cũng thể hiện niềm tự hào bởi những chiến công của nhân dân Đại Việt.>> Xem bài Đại cáo bình ngô - Phần tác phẩm để củng cố lại kiến thức về tác phẩm này* Soi chiếu lí luận vào thực tiễn- Tội ác của giặc Minh+ Tội ác xâm lược Từ “nhân, thừa cơ” cho thấy sự cơ hội, thủ đoạn của giặc Minh, chúng mượn chiêu bài “phù Trần diệt Hồ” để gây chiến tranh xâm lược nước ta.=> Vạch trần luận điệp bịp bợm, cướp nước của giặc Minh.+ Tội ác với nhân dânKhủng bố, sát hại người dân vô tội Nướng dân đen, vùi con đỏBóc lột bằng thuế khóa, vơ vét tài nguyên, sản vật nước taPhá hoại môi trường, tiêu diệt sự sốngBóc lột sức lao động, phá hoại sản xuất.=> Sử dụng biện pháp kiệt kê tố cáo những tội ác dã man của giặc.=> Gợi hình ảnh đáng thương, tội nghiệp, khổ đau của nhân dân=> Nỗi xót xa, đau đớn, thương cảm đối với nhân dân, sự căm phẫm đối với kẻ thù của tác Lòng căm thù giặc của nhân dân.+ Hình ảnh phóng đại “trúc Nam Sơn không ghi hết tội, nước Đông Hải không rửa sạch mùi” lấy cái vô cùng của tự nhiên để nói về tội ác của giặc Minh.+ Câu hỏi tu từ “lẽ nào... chịu được” Tội ác không thể dung thứ của Thái độ căm phẫn, uất nghẹn không bao giờ tha thứ của nhân dân ta=> Đoạn văn là bản cáo trạng đanh thép về tội ác của giặc Minh.* Diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Hình tượng người anh hùng Lê Lợi+ Nguồn gốc xuất thân là người nông dân áo vải “chốn hoang dã nương mình”+ Lựa chọn căn cứ khởi nghĩa “Núi Lam Sơn dấy nghĩa”+ Có lòng căm thù giặc sâu sắc, sục sôi “Ngẫm thù lớn há đội trời chung, căm giặc nước thề không cùng sống...”+ Có lí tưởng, hoài bão lớn lao, biết trọng dụng người tài “Tấm lòng cứu nước... dành phía tả”.+ Có lòng quyết tâm để thực hiện lí tưởng lớn “Đau lòng nhức óc... nếm mật nằm gai... suy xét đã tinh”.=> Hình tượng Lê Lợi vừa là con người bình dị đời thường, vừa là người anh hùng khởi nghĩa. Hình tượng Lê Lợi cũng là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi cho thấy tính chất nhân dân của cuộc khởi Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.+ Giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩaKhó khăn về quân trang, lương thực lương hết mấy tuần, quân không một độiTinh thần của quân và dân Gắng chí, quyết tâm Ta gắng chí khắc phục gian nan, đồng lòng, đoàn kết sử dụng 2 điển tích dựng cần trúc, hòa nước sông=> Giai đoạn đầu đầy khó khăn, thử thách, nhờ sự lạc quan, đồng lòng, đoàn kết, biết dựa vào dân đã giúp nghĩa quân Lam Sơn vượt qua mọi khó khăn.+ Giai đoạn phản công và dành thắng lợiNhững chiến thắng ban đầu Trận Bạch Đằng, miền Trà Lân tạo thanh thanh thế cho nghĩa quân và trở thành nỗi khiếp đảm cho kẻ thù “sấm vang chớp giật, trúc chẻ tro bay”.Nghĩa quân liên tiếp giành nhiều thắng lợi to lớn, tiêu diệt giặc ở những thành mà chúng chiếm đóng “Trần Trí, Sơn Thọ... thoát thân” và tiêu diệt quân chi viện của giặc “Đinh Mùi... tự vẫn”.=> Biện pháp liệt kê tái hiện không khí chiến trận máu lửa, sục sôi với những chiến thắng giòn giã liên tiếp của quân ta cũng như sự thất bại nhục nhã, ê trề của địch.+ Sự thất bại nhục nhã, thảm thương của giặc MinhNghệ thuật cường điệu, phóng đại cực tả sự thiệt hai, tổn thất to lớn của quân thù. Đó là những thất bại nhục nhã, ê chề “thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm, bêu đầu, bỏ mạng...”.Thất bại thảm hại, khốn đốn, cửi áo giáp xin hàng “Thượng thư Hoàng Phúc... xin cứu mạng”Tướng giặc tham sống sợ chết xin hàng.+ Khí thế vang dội và cách ứng xử của quân dân taCách nói cường điệu, phóng đại “Gươm mài đá đá núi cũng mòn, voi uống nước nước sông phải cạn, đánh một trận....”, ca ngợi khí thế hào sảng, ngút trời của quân thi chính sách nhân nghĩa “Thần vũ chẳng giết hại...nghỉ sức”. Đây là cách ứng xử vừa nhân đạo vừa khôn khéo của nghĩa quân Lam Sơn, nó vừa khiến ta thấy được tính chất chính nghĩa của nghĩa quân vừa là sự chuẩn bị cần thiết cho chính sánh ngoại giao sau này.=> Nghệ thuật đối lập đã thể hiện rõ những nét đối cực trong cuộc chiến giữa ta và địch, từ tính chất cuộc chiến cho đến khí thế, sức mạnh, những chiến công và cách ứng xử=> Niềm tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc của tác giả.* Niềm tin, ý chí- Giọng điệu trang trọng, hào sảng cho thấy niềm tin và những suy tư sâu lắng của tác giả- Sử dụng những hình ảnh về tương lai đất nước như “xã tắc từ đây vững bền, giang sơn từ đây đổi mới, thái bình vững chắc”, các hình ảnh của vũ trụ “kiền khôn, nhật nguyệt, ngàn thu sạch làu”=> Đất nước, vũ trụ đang vận động theo hướng tươi sáng, tốt đẹp hơn.=> Đây không chỉ là lời tuyên bố kết thúc còn là niềm tin tưởng, lạc quan về sự nghiệp xây dựng đất nước.* Đặc sắc nghệ thuật- Sử dụng sáng tạo và thành công thể cáo- Kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính trị và yếu tố văn Sử dụng các biện pháp liệt kê, phóng đại, đối lập,...c Kết bài- Khái quát nội dung và nghệ thuật của tác phẩm- Liên hệ với “Nam quốc sơn hà”, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.>> Xem thêm Tư tưởng nhân nghĩa ở Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiBài làm mẫu phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiNguyễn Trãi danh nhân văn hóa thế giới, ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Bên cạnh những tác phẩm giàu giá trị nghệ thuật, còn có những tác phẩm giàu tính chiến đấu, và một trong những tác phẩm đó không thể không nhắc đến Bình Ngô đại cáo. Tác phẩm là bản tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Minh đầy gian lao mà cũng vô cùng hào hùng của dân 1427, nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi huy hoàng, đã tiêu diệt viện binh của giặc. Lúc này, Vương Thông đang cố thủ trong thành Đông Quan để chờ hai đạo viện binh do hai tướng giỏi của nhà Minh chỉ huy là Liễu Thăng và Vạn Thạnh, nhưng hai đạo quân này đã bị quân ta chặn đánh, Vương Thông viết thư xin hàng và rút quân về nước. Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” để tuyên bố với toàn dân về việc dẹp yên giặc Ngô. Đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc, được ban bố vào đầu năm đầu của tác phẩm, Nguyễn Trãi nêu lên luận đề chính nghĩa Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Nhân nghĩa vốn được hiểu là lòng yêu thương con người. Nhưng với Nguyễn Trãi, yêu thương ấy phải được thể hiện bằng hành động cụ thể “cốt ở yên dân”, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, mà trước hết là phải trừng trị kẻ có tội, bấy giờ chính là giặc Minh xâm lược. Như vậy, nhân nghĩa của ông xuất phát từ lòng yêu dân, mong cho dân có cuộc sống yên ổn. Đây là tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi, đồng thời đây cũng là lần đầu tiên người dân xuất hiện với vị trí quan trọng trong văn kiện có tầm cỡ thời tiếp theo, ông đưa ra năm yếu tố cơ bản để khẳng định sự tồn tại có chủ quyền của nước Đại Việt. Nền độc lập của ta được dựa trên Cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, truyền thống lịch sử và chủ quyền riêng “mỗi bên xưng đế một phương”. Nguyễn Trãi đã hoàn thiện quan niệm về quốc gia, dân tộc. Đây là bước tiến dài so với bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất – Nam quốc sơn khi nêu lên luận đề chính nghĩa, bằng giọng văn đanh thép Nguyễn Trãi đã vạch trần tội ác của giặc Minh. Để tố cáo tội ác của chúng, ông đứng trên lập trường dân tộc, sử dụng ngôn ngữ hết sức chuẩn xác nhân, thừa cơ cho thấy luận điệu bịp bợm của giặc Minh phù Trần diệt Hồ. Không chỉ vậy ông còn đứng trên lập trường nhân bản để tố cáo tội ác của kẻ thù khi chúng cai trị nhân dân ta. Chúng hủy hoại cuộc sống của con người bằng những hành động hết sức dã man Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ. Không dừng lại ở đó chúng còn hủy hoại môi trường sống của muôn loài cây cỏ; Các chính sách thuế khóa nặng nề, vơ vét cho bằng hết sản vật của nước ta, tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ, tiêu diệt đường sống muôn loài. Chúng sử dụng dân ta như một công cụ để phục dịch cho chúng người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng,… Những tội ác của chúng thấu đất, vang tới tận trời xanh, không thể dung thứ Lẽ nào trời đất dung tha/ Ai bảo thần nhân chịu được. Câu hỏi vang lên như một lời cảnh cáo, cũng thể hiện niềm đau xót của tác giả trước thảm cảnh mà nhân dân phải hứng chịu. Với những hình ảnh đối lập tương phản, giàu giá trị gợi cảm tác giả đã tố cáo một cách đanh thép nhất tội ác của kẻ những lời văn thống thiết, nhưng cũng đầy mạnh mẽ, tiếp đến Nguyễn Trãi kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và thắng lợi tất yếu của quân dân ta. Trong những buổi đầu khởi nghĩa, tình thế quân ta hết sức khó khăn, quân thù đang vào thời điểm mạnh nhất, quân ta thì Tuấn kiệt như sau buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu. Tương quan đó khiến cuộc khởi nghĩa càng trở nên khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Lê Lợi, quân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Lê Lợi là người có lòng căm thù giặc sâu sắc Ngẫm thù lớn há đội trời chung/ Căm giặc nước thề không chung sống và ông mang trong mình lòng quyết tâm lớn tiêu diệt quân xâm lược, mang lại bình yên cho nhân dân. Ông không chỉ coi trọng người hiền tài mà còn coi trọng vai trò của nhân dân Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới. Tất cả người dân nhỏ bé, thấp kém nhất đều được tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi. Đây là lần đầu tiên người dân được đưa vào vị trí trang trọng đến vậy. Điều đó đã tạo nên sự thống nhất một lòng, đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kết đó đã đem lại hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho nhân dân ta Đánh một trận, sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận, tan tác chim muông/ Nổi gió to trút sạch lá khô/ Thông tổ kiến phá toang đê tuyên bố chiến thắng, mở ra kỉ nguyên độc lập của dân tộc thật dõng dạc, tràn đầy niềm tự hào Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới, đất nước ta bước vào thời kì tự chủ, thịnh vượng dưới triều đại mới. Đồng thời ông cũng rút ra những bài học lịch sử Kiền khôn bĩ rồi lại thái/ Nhật nguyệt hối rồi lại minh, để khẳng định niềm tin vào vận mệnh mới của dân tộc sau khi đã trải qua những cơn bĩ cực. Đồng thời ông cũng khẳng định, chiến thắng chúng ta có được là nhờ sự kết hợp sức mạnh của thời đại và sức mạnh truyền thống dân tộc Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như bản là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố chính luận và chất văn chương. Kết cấu văn bản chặt chẽ, lập luận vô cùng sắc bén, lời văn đanh thép tố cáo tội ác giặc, hùng hồn, hào sảng khi nói về chiến công của nhân dân ta. Nhưng bên cạnh đó cũng đậm chất văn chương nghệ thuật với những câu văn giàu cảm xúc, giàu hình tượng, giàu giá trị tạo hình, gây ám ảnh sâu sắc với người phẩm là bài ca ngợi ca cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thần kì đã chấm dứt sự xâm lược của giặc Minh. Đồng thời cũng là bản tố cáo đanh thép, dõng dạc những tội ác mà giặc Minh phạm với nhân dân ta. Bên cạnh đó Đại cáo Bình Ngô còn là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn bất hủ của muôn vọng rằng dàn ý phân tích tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi cùng bài tham khảo trên đây sẽ giúp các em hoàn thành bài làm của mình một cách hoàn thiện và thuận lợi nhất. Ngoài ra, các em có thể tham khảo thêm nhiều bài văn mẫu 10 khác được cập nhật thường xuyên tại Chúc các em luôn học tốt và đạt kết quả cao nhé!
Dưới đây sẽ là dàn ý chi tiết và một số bài văn mẫu lớp 10 phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo, đây là tài liệu vô cùng hữu ích giúp cho các bạn học sinh hiểu hơn về tác phẩm này cũng như củng cố lại kiến thức Ngữ văn lớp 10. Sau đây, chúng tôi xin mời các bạn cùng tham khảo nội dung của tài liệu đang xem Dàn ý đoạn 2 bình ngô đại cáoĐược mệnh danh là áng thiên cổ hùng văn của dân tộc, là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 sau Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo là một tác phẩm xuất sắc mà ở đó ta có thể thấy được tinh thần dân tộc của Nguyễn Trãi, đó là tấm lòng yêu nước, thương dân tha thiết, lòng căm thù quân giặc sâu sắc. Dựa trên việc khẳng định chân lý chủ quyền dân tộc cùng với tư tưởng nhân nghĩa mới mẻ, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, tác phẩm đã mang đến cho người đọc những nhận thức chân thực về cuộc chiến chống quân Minh xâm lược. Nguyễn Trãi chia bài cáo làm 4 phần với 4 nội dung chính, trong đó có một phần phản ánh sự tàn ác của giặc Minh những năm tháng đô hộ hộ nước ta là phần có vai trò quan trọng trong bài cáo, cần lưu tâm để càng thấm thía hơn nỗi đau mất nước những năm tháng đã giặc Minh cướp nước, ấp ủ âm mưu xâm lược bấy lâu, nhưng lại còn ra vẻ sợ người đời dị nghị thế nên mới nghĩ ra cái cớ “phù Trần diệt Hồ” để bịp bợm thiên hạ, lừa lọc nhân dân ta, từ đó có cớ dẫn quân sang xâm lược. Quả thật bọn bất nhân, bất nghĩa thì chẳng chuyện gì mà không vẽ ra được. Đã thế trong nước thì lòng dân oán hận ngập trời, “Bọn gian tà bán nước cầu vinh”, bán cả tự tôn dân tộc để tham chút lợi nhỏ bé, mở đường cho giặc vào tàn sát người mình, ôi chẳng có thứ người nào lại nhẫn tâm đến ngày giặc Minh tràn vào, nhân dân ta chẳng có một ngày được sống yên ổn, chúng ra sức tàn sát, âm mưu diệt chủng những kẻ kháng cự, không nghe lời bằng những phương thức hết sức dã man, rùng rợn, tựa bọn quỷ sa tăng hút máu. Nào là “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”, “Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”. Đã thế còn liên tiếp bịp bợm “Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế”, gieo rắc thù oán hết gần 20 năm trời đằng đẵng. Kẻ chết đã chết, nhưng người sống chúng cũng phải tìm mọi cách mà bóc lột mà hành hạ, biến nhân dân ta thành nô lệ, thành những công cụ biết nói, ép nhân dân ta phải tự đi vơ vét tài nguyên của đất nước mà cung phụng cho chúng.“Nặng thuế khóa sạch không đầm bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước sản vật, bắt dò chim trả, chốn chốn lưới nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.”Nhưng những thứ quý hiếm ấy có phải đâu dễ tìm, người xuống biển sâu chết không thấy xác, kẻ lên rừng, vào núi thì hùm beo rình rập. Đã thế chúng còn bắt nhân dân ta phải tìm cả những thứ cực quý như chim trả, hươu đen, phải giăng lưới, đặt bẫy có khi chẳng bắt được mà còn đi nhầm cả vào bẫy thú vật. Ôi thật xót xa cho cảnh khốn khổ tột cùng! Hậu quả để lại là môi trường liên tiếp bị hủy hoại tàn phá, chim muông cây cỏ cũng chẳng còn chỗ nương thân, phụ nữ bỗng trở thành kẻ góa bụa, gia đình đang yên ổn canh cửi nay cũng thuận đà tan tác cả, còn đâu chốn làng quê yên bình, đẹp đẽ, còn đâu tiếng người cười nói dẫn nhau ra đồng, mất hết tích đoạn 2 Bình Ngô Đại CáoĐối lập với khung cảnh khốn khổ, tiêu điều cùng cực ấy thì giặc Minh lại hiện lên với một hình ảnh hoàn toàn đối lập “Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán”, quân giặc thì no nê phè phỡn, đúng cảnh kẻ thì ăn không hết người thì lần chẳng ra. Phu phen tạp dịch cứ áp lên người nông dân cơ cực, nào thì xây nhà, đắp đất chẳng bao giờ hết việc, còn bọn chúng thì nghênh ngang ra sức đòn roi mà quất, mà sai bảo chẳng thương tiếc. Sự độc ác, tàn bạo của giặc Minh được Nguyễn Trãi dùng những cái vô cùng, vô tận của thiên nhiên mà so sánh, trúc Nam Sơn biết bao nhiêu cây chẳng đếm được, ấy thế mà cũng không đủ để chép tội quân Minh, biển Đông Hải bao la rộng lớn cũng nào đủ để rửa sạch mùi tàn ác, dơ bẩn của chúng. Tội ác của quân Minh nhiều không kể xiết là như vậy, đến muôn ngàn đời đi nữa vẫn còn lưu trong sử sách chẳng phai mờ. Nguyễn Trãi đã phải thốt lên bằng một giọng đầy đau đớn và căm phẫn “Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?”, ông tin vào thiên mệnh, vào trời đất, tin rằng tất có người trừng trị được kẻ thủ ác, bởi trời đất vốn có mắt, rồi quân Minh sẽ chẳng thoát khỏi sự trừng phạt đích đáng cho những tội lỗi mà chúng gây ra trên đất Đại Việt. Câu hỏi chính là lời cảnh báo đầy bi thương và căm thù dành cho quân Minh để kết thúc phần hai của bài một giọng văn đầy đau xót, bi thương tột cùng, Nguyễn Trãi vừa vạch trần âm mưu xâm lược nước ta vừa phản ánh được sự tàn ác, man rợ của chúng đối với dân tộc Đại Việt. Đồng thời ông cũng thể hiện được tư tưởng nhân nghĩa của mình khi trở thành người đứng về phía nhân dân, lên án tội ác của giặc, có tình cảm xót thương sâu sắc khi quyền sống của nhân dân bị chà đạp bị coi thường bởi quân thù. Phần hai có ý nghĩa như là lời buộc tội đầy đanh thép của quan tòa dành cho kẻ phạm tội và nguyên nhân trực tiếp diễn ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau Phân tích đoạn 2 bài thơ Bình Ngô Đại Cáo – Mẫu 2Nguyễn Trãi là một trong ba danh nhân văn hóa của dân tộc được UNESCO công nhận, đồng thời là nhà quân sự lỗi lạc, nhà tư tưởng chính trị kiệt xuất của Việt Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đất nước rối ren, loạn lạc – nhà Trần suy yếu, nhà Hồ nhiễu nhương, lại phái quân cuồng Minh xâm lược, hoàn cảnh ấy càng thổi bùng lên tinh thần yêu nước vốn đã thấm nhuần trong tư tưởng truyền thống xuất phát từ dòng tộc. Sự cống hiến của Nguyễn Trãi lớn lao không tả, chẳng những là mưu sĩ với thần cơ diệu toán của khởi nghĩa Lam Sơn, ngòi bút của ông cũng góp phần quan trọng vào sự nghiệp đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại thái bình cho nước nhà, điển hình là hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Đại cáo bình Ngô”. Đặc biệt, tác phẩm “Đại cáo bình Ngô” được xem như “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc có giá trị cả về mặt chính trị, lịch sử lẫn văn học. Không những là áng thiên cổ hùng văn về tư tưởng tự chủ tự cường của dân tộc mà còn là bản cáo trạng luận tội giặc Minh xâm lược, chỉ rõ sự độc ác nhơ bẩn của chúng“…Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tộiDơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi…”Đoạn hai của tác phẩm với những lý luận sắc sảo, đanh thép, chứng cứ xác thực, đã vạch mặt lũ ngoại xâm với mưu mô, thủ đoạn dơ bẩn và sự tàn bạo, độc ác của biện pháp phóng đại, Nguyễn Trãi đã chỉ rõ những điều bại hoại nhân nghĩa, luân lí mà giặc Minh đã làm với dân tộc ta qua hình tượng “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội” và “Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”. Thực vậy, tội ác chúng gây ra nhiều không kể xiết đến nỗi ghi tạc chúng lên thân trúc Nam Sơn cũng chẳng hết, hình tượng này cho thấy sự căm phẫn lên đến tột độ của nhân dân đối với sự bạo ngược của quân xâm lược. Chẳng những quá đỗi tàn bạo, giặc Minh còn thi hành những chính sách hết sức nhơ bẩn, đê hèn và quỷ quyệt nhằm bẻ gãy ý chí dân tộc, tinh thần chiến đấu và âm mưu biến nước ta thành quận huyện, đồng hóa dân tộc ta thành người Hán và vĩnh viễn xóa sổ người Việt khỏi cõi trời đất. Chính vì lẽ ấy mà tác giả Nguyễn Trãi đã dành hẳn một phần lớn trong tác phẩm để đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng hùng hồn nhằm luận tội lũ giặc tàn bạo và xảo sử Việt Nam chép rất rõ về những chính sách cai trị vô cùng thâm độc trong ngót hai mươi năm đô hộ nước ta, song phần nhiều đều biên soạn dựa theo những bản ghi chép của Nguyễn Trãi, đặc biệt là “Đại cáo bình Ngô”, ấy cũng bởi mưu sĩ họ Nguyễn là người trực tiếp sống và chiến đấu trong giai đoạn nước ta bị giặc Minh xâm lược. Từ đó có thể thấy, những luận cứ trong bài đại cáo hết sức xác thực và giàu tính chiến đấu. Qua tác phẩm, tác giả đã tố cáo tội ác dã man của bè lũ xâm lược và bán nước“…Vừa rồiNhân họ Hồ chính sự phiền hàĐể trong nước lòng dân oán hậnQuân cuồng Minh thừa cơ gây họaBọn gian tà bán nước cầu vinh…”Từ đây, từng câu từng chữ trong tác phẩm đều như một nét mực châm phá nên bức tranh về bối cảnh loạn lạc của đất nước, và sự xảo trá, “mượn gió bẻ măng” và nham hiểm của giặc Minh. Chúng sử dụng chiêu bài xâm lược “phù Trần diệt Hồ” với quân bài chủ chốt Trần Thiêm Bình nhằm mua chuộc quý tộc nhà Trần về phe chúng để đô hộ nước ta Những chính sách của chúng đều sặc mùi dối trá, phỉnh gạt“…Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kếGây binh kết oán trải hai mươi năm…”Phân tích đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo của tác giả Nguyễn TrãiChính từ đó, người đọc thấy rõ sự nhơ nhuốc, bại hoại nhân nghĩa và xảo quyệt không lường của bọn xâm lược“…Bại nhân nghĩa nát cả đất trờiNặng thuế khóa sạch không đầm núi…”Chung quy lại, mục đích duy nhất mà giặc Minh hướng đến khi gót giày chúng dẫm lên lãnh thổ Đại Việt là đô hộ và cai trị, âm mưu xóa sổ và thôn tính nước ta, vì lẽ đó nên những điều ngụy biện của chúng chẳng thể dối gạt nhân dân Việt Nam, và tội ác, thủ đoạn của chúng thật là “Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi”Sau khi chỉ rõ âm mưu và sự bẩn thỉu trong kế sách xâm lược của quân Minh, tác giả bắt đầu chuyển mạch ngôn từ và liệt kê hàng loạt tội ác của chúng“…Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tànVùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…”Không từ thủ đoạn, quân xâm lược tàn sát người vô tội chẳng những nhằm thỏa mãn thú tính và bản chất hung tàn của chúng mà còn âm mưu diệt chủng dân nước Nam, ép những người không phục tùng chúng phải đi vào chỗ chết. Chẳng những vậy, đối với những cuộc đấu tranh chống lại sự tàn độc của lũ xâm lược, chúng chẳng ngại ngần dìm những cuộc khởi nghĩa vào bể máu, gây cảnh binh đạo. CHưa hết, giặc Minh còn ra sức vơ vét của cải, sản vật quý hiếm của nước Nam để thỏa mãn nhu cầu vật chất, thú vui xa hoa vô lối của chúng bằng cách bóc lột, bức ép người Việt phải săn lùng sản vật để cống nộp bất chấp mạng sống“…Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồngKẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độcVét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăngNhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi đặt cạm…”Bằng biện pháp liệt kê, tác giả đã tài tình khắc họa về thảm cảnh tang tóc do chính sách cai trị tàn bạo và vô luân lý của giặc Minh gây nên. Không dừng lại ở đó, quân xâm lược còn thi hành hàng loạt biện pháp man rợ khác nhằm bóc lột sức lao động, vắt kiệt sinh khí của nước ta, đồng thời tàn phá kế sinh nhai của nhân dân“…Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏNheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng…”Rồi thì“…Nay xây nhà, mai đắp đất, tay chân nào phục dịch cho vừaNặng nề những nỗi phu phenTan tác cả nghề canh cửi…”Tất cả những tội ác của chúng đều được vạch rõ và chứng minh bằng những chứng cứ xác đáng, không thể chối cãi, rồi dồn lại vào hình tượng đối lập giữa lũ giặc mọi rợ hùng bạn với người dân nhỏ bé bị chúng hành hạ, vắt kiệt sức lực, mồ hôi, máu và nước mắt“…Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bất no nê chưa thỏa…”Bại hoại nhân nghĩa, trời bất dung, đất bất thứ là những thứ dùng để diễn tả về những tội ác đẫm máu của quân Minh trên đất Đại Việt. Tất cả đều được ngòi bút sắc hơn ngọn giáo của Nguyễn Trãi ghi tạc vào sử sách bằng giọng điệu uất hận nghẹn ngào kết hợp với biện pháp phóng đại, hình ảnh kì vĩ, vô tận, tội ác chồng chất bị phơi bày trong bản cáo trạng đẫm máu và nước mắt. ở đây, bản tuyên ngôn độc lập còn có giá trị như một bản tuyên ngôn nhân quyền, vạch rõ sự bại hoại nhân nghĩa của quân thù“…Lẽ nào trời đất dung thaAi bảo thân nhân chịu được…”Tội ác mà thần bất dung, nhân bất thứ thì quả thật là “Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội.”Qua những phân tích nêu trên, hậu thế có thể thấy thảm cảnh chiến tranh tang thương đến nhường nào, từ đó ra sức đấu tranh vì một cuộc sống độc lập tự do cố gắng gìn giữ nền hòa bình dân tộc, chủ quyền cương vực lãnh thổ. Đồng thời, phải ra sức phấn đấu rèn luyện nhằm cống hiến và xây dựng quốc gia giàu đẹp, ấy vậy mới xứng đáng với non sông mà ông cha phải đánh đổi cả máu xương mới gìn giữa lại, qua đoạn hai của “Đại cáo bình Ngô”, có thể thấy rõ sự tàn bạo, thâm hiểm, độc ác của giặc xâm lược, tất cả được khắc họa chi tiết nhờ nghệ thuật chính luận tài tình của Nguyễn Trãi. Qua đó, hậu thế thấy được giá trị của việc bảo vệ và gìn giữ non sông gấm vóc Việt Phân tích đoạn 2 – Mẫu 3Lấp lánh rọi sáng như một ngôi sao Khuê trong tâm hồn, trong trái tim “ ưu thời ái quốc” – thâm thúy, sắc bén đầy biến hóa trong tài mưu lược chính trị; nhẹ nhàng mà thanh tao, thi vị trong những vần thơ viết về thiên nhiên, Nguyễn Trãi đã tạc mình vào vóc dáng dân tộc. Định mệnh có thể khiến con người ta sinh ly tử biệt song, thời gian lại chẳng thể xóa nhòa những giá trị vĩnh hằng. Sự trường tồn của tên tuổi Nguyễn Trãi cùng non sông nước Việt là minh chứng hùng hồn cho điều đó. Nếu Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận kiệt xuất mọi thời đại thì Bình Ngô Đại Cáo là áng văn bất hủ của ông trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Tác phẩm gồm 4 phần phần 1 nêu luận đề chính nghĩa, phần 2 vạch rõ tội ác của kẻ thù, phần 3 kể lại quá trình chinh phạt gian khổ và tất thắng của cuộc khởi nghĩa, phần 4 tuyên bố kết quả, khẳng định sự nghiệp chính nghĩa. Bài viết sau đây sẽ chỉ làm rõ tội ác của giặc Minh qua phần 2 của tác thêm Watch Naruto Shippuden Episode 441 Online, Attention Required!Sau hơn 10 năm kháng chiến gian khổ và quyết liệt, tháng 1 năm 1428 nhân dân ta dưới ngọn cờ của Lê Lợi, đã đánh đuổi giặc Minh ra khỏi đất nước. Sau chiến thắng, Lê Lợi tổ chức phong thưởng cho tướng lĩnh và chính thức lên ngôi hoàng đế, Nguyễn Trãi thay mặt nhà vua viết Bình Ngô Đại Cáo để tuyên bố cho toàn dân biết công cuộc cứu nước đã thắng lợi. Từ đây, dân tộc sẽ bước vào một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên hòa Cáo Bình Ngô là tác phẩm của Nguyễn Trãi, tác phẩm này là một bản tuyên cáo rộng rãi việc đã dẹp yên giặc Ngô. Người xưa gọi thế lực phong kiến phương Bắc là giặc Ngô, giặc Ngô mà Nguyễn Trãi đề cập đến chính là giặc thơ thứ 2 chính là bản cáo trạng đanh thép, vạch trần tội ác của quân xâm lược nhà Minh. Thừa cơ lợi dụng việc nhà Hồ chính sự đổ nát, giặc Minh kéo quân vào nước ta, hòng chiếm đoạt đã được Nguyễn Trãi vạch rõNhân họ Hồ chính sự phiền hà,Để trong nước lòng dân oán cuồng Minh đã thừa cơ gây họa,Bọn gian tà còn bán nước cầu năm 1406, giặc Minh lấy cớ việc nhà Hồ cướp ngôi của nhà Trần mà huy động 20 vạn bộ binh và thủy binh, cùng với hàng chục dân phu vận chuyển dưới quyền chỉ huy của năm tướng là Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh, Lý Bân, Trần Húc. Chúng chia làm hai cánh kéo vào xâm lược nước Đại Việt ta, cánh thứ nhất dưới sự chỉ huy của Trương Phụ đi theo đường Bằng Tường, Quảng Tây mà tiến vào Lạng Sơn; cánh thứ 2 do Mộc Thạnh chỉ huy đi theo sông Hồng kéo xuống. Chưa dừng lại ở đó, quân Minh còn sai người mang sắc đến dụ vua Chămpa nhằm phối hợp để đánh quân ta ở biên giới phía năm 1407 đến 1427, 20 năm nhà Minh đô hộ nước ta là 20 năm chúng thực hiện các chính sách và biện pháp từ tinh vi đến trắng trợn nhằm xóa bỏ quá khứ đấu tranh, dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, chúng còn thủ tiêu những di sản văn hóa truyền thống của nước ta, chúng muốn chiếm đóng vĩnh viễn đất nước ta. Chúng còn đốt sách vở, ngay cả sách học của trẻ em và bia đá chúng cũng phá hủy. Ở đây ta thấy một lần nữa tội ác tày trời của giặc Minh đối với nhân dân Đại Việt bấy tích đoạn 2 Bình Ngô Đại Cáo – bức thư nêu tội ác của giặc MinhTội ác mà giặc Minh gây ra cho Đại Việt ta, tác giả khẳng định đó là “Bại nhân nghĩa nát cả đất trời”. Sự tương đồng giữa âm mưu xâm lược và chính sách cai trị của chúng thể hiện rất rõ, và điểm chung đều rất gian xảo và thâm độc. Chúng không còn chỉ là vơ vét mọi sản vật, sức người nữa mà chúng đã tàn hại môi trường sống, tàn sát con người mà không biết ghê dân đen trên ngọn lửa hung tàn,Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai hai câu thơ trên ta thấy được hình ảnh cụ thể nhưng cũng khái quát về lời cáo trạng, buộc tội quân giặc. Dân đen là những kiếp người bé nhỏ, đó là những người ở tận cùng của xã hội, họ là nạn nhân trực tiếp của tội ác mà giặc Minh reo rắc trên bờ cõi đất nước ta. Đến đây ta mới thấy được tấm lòng rộng mở, một tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Trãi, ông viết nên những câu văn mang đầy giá trị nhân đạo giữa con người với những con người với ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch cái vô cùng là trúc Nam Sơn, nước Đông Hải để nói về tội ác của loài quỷ dữ là thằng há miệng, đứa nhe răng. Chúng và thú dữ chính là một, đều là loài động vật khát máu người, không quan tâm đến con người ta đau khổ như thế nào mà chỉ mãi nhăm nhe cắn xé. Hậu quả mà chúng tạo ra thật tàn khốc, gia đình không tan nát thì cũng là mất chồng, mất vợ, con cái nheo nhóc, muôn loài bị phá hủy, sản xuất trì trệ, nhân dân khổ đó nhân dân ta đã dũng mãnh, đứng lên dưới ngọn cờ của Lê Lợi mà tống cổ giặc Minh ra khỏi đất có thể nêu rõ hơn tội ác xâm lược của giặc Minh, tác giả đã sử dụng phương pháp liệt kê có chọn lọc, ông sử dụng những câu thơ giàu hình tượng, linh hoạt trong cách sử dụng giọng văn. Lúc căm phẫn, tức giận với lũ giặc cướp nước; lúc thì đau xót, thương cảm cho nhân dân Đại Việt câu thơ cuối là lời kết án vô cùng đanh thép Lẽ nào trời đất dung tha,Ai bảo thần dân chịu được?Ý của tác giả ở đây là tội ác của giặc Minh đã vượt qua giới hạn của lẽ trời, hành động tàn ác đầy nhơ bẩn của chúng đến cả thần và người đều không có cách nào tha là một bản cáo trạng đanh thép tội ác khủng khiếp của giặc Minh trong 20 năm đô hộ nước ta. Để tăng thêm tính thuyết phục cho toàn đoạn tác giả đã đan xen sử dụng hài hòa giữa hai hình ảnh mang tính chất khái quát và hình ảnh có tính cụ thể, sinh thêm Cách Xưng Hô Dành Cho Người Đứng Cúng Giỗ Dành Trong Tiếng ViệtBằng cái tài và cái tâm của mình, Nguyễn Trãi đã làm cho Bình Ngô Đại Cáo xứng đáng là áng văn thiên cổ hùng văn của dân tộc thời đó, thậm chí là bây vọng rằng 3 bài văn mẫu phân tích Bình Ngô Đại Cáo đoạn 2 trên sẽ giúp các bạn học sinh phần nào với đề bài này. Chcus các bạn học tốt!
Dàn ý bài làm văn số 6 lớp 10 đề 1VnDoc mời các bạn học sinh tham khảo Dàn ý Thuyết minh một tác phẩm văn học Bình ngô đại cáo để bạn đọc cùng tham khảo. Bài viết được tổng hợp các mẫu dàn ý thuyết minh một tác phẩm văn học, qua tài liệu các bạn học sinh sẽ làm bài được tốt hơn. Mời thầy cô cùng các bạn học sinh tham khảo chi tiết và tải về bài viết dưới đây tích đoạn 1 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiDàn ý Thuyết minh về một món ăn đặc sảnBài văn mẫu lớp 10 số 5 đề 3 Thuyết minh về di tích lịch sửDàn ý Thuyết minh về di tích lịch sửBài văn mẫu lớp 10 số 5 đề 4 Thuyết minh về phương pháp học môn ngữ vănDàn ý Thuyết minh về phương pháp học môn ngữ vănDàn ý Thuyết minh về một tác giả văn học Nguyễn DuThuyết minh Bình Ngô đại cáoDàn ý Thuyết minh một tác phẩm văn học Bình ngô đại cáo - Mẫu 1Thuyết minh Bình Ngô đại cáo1. Mở bài- Dẫn dắt vấn đề Khái quát về tác giả, tác phẩm, giá trị nội dung, nghệ thuật của bài Bình Ngô đại Thân bài - Nêu luận đề chính nghĩa Cốt lõi nhân nghĩa chính là yên dân và trừ bạo. Nhân nghĩa không bó hẹp trong khuôn khổ tư tưởng Nho giáo mà rộng hơn là làm thế nào để đem lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Bên cạnh đó khẳng định nước ta tuy là một nước nhỏ nhưng vẫn có thể tự hào về+ Nền văn hiến lâu đời.+ Cương vực lãnh thổ.+ Phong tục tập quán.+ Lịch sử và chế độ Bản cáo trạng vạch rõ tội ác kẻ thù Giặc Minh xảo quyệt thừa nước đục thả câu. Không những thế còn tàn sát, hành hạ, tước đoạt mạng sống con người một cách dã man dẫn chứng.- Tổng kết quá trình kháng chiến+Xây dựng hình tượng người anh hùng áo vải bình thường nhưng có lòng yêu nước thương dân và căm thù giặc sâu sắc, có lí tưởng cao cả so sánh với Trần Quốc Tuấn để thấy được lòng căm thù giặc và niềm tin sắt đá.+ Khắc họa những chiến công oanh liệt hào hùng dẫn chứng.- Tuyên bố hòa bình mở ra kỉ nguyên mới.* Nghệ thuật-Sử dụng từ ngữ hiển nhiên, vốn Biện pháp đối lập, lấy cái vô hạn của trúc Nam Sơn để nói đến cái vô hạn trong tội ác giặc Minh, lấy cái vô cùng của nước Đông Hải để nói lên sự dơ bẩn vô Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân Liệt kê, so sánh, đối lập để tạo thành bản anh hùng ca về những chiến công oanh Kết bài Tóm tắt lại nội dung, nghệ thuật tiêu các bạn tham khảo Phân tích đoạn 2 Bình Ngô đại cáo của Nguyễn TrãiDàn ý Thuyết minh một tác phẩm văn học Bình ngô đại cáo - Mẫu 2I. VÀI VẤN ĐỀ CHUNG1. Hoàn cảnh ra đờiCuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở Việt Nam, đã phải mở cửa thành ông Quan đầu hàng. Cuộc kháng chiến 10 năm đã kết thúc vẻ vang. Thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập triều đại Về thể loại Cáo- Nếu văn học động viên mọi người chiến đấu thì văn Cáo lại có ý nghĩa tuyên ngôn nhằm công bố cho mọi người biết những chủ trương chính trị trọng đại của toàn dân tộc như việc xác lập hòa bình, đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng vương triều Cáo viết bằng thể văn biền ngẫu, số câu chữ không hạn chế, văn phong mang tính chính luận nên trang trọng, sắc bén, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết Kết cấu của bài đại cáo bình Ngô tuân thủ đúng kết cấu của các tác phẩm Thang cáo được chép trong chương Thương Thư của sách Kinh Thư và Vũ cáo hay đại cáo Vũ Thành được chép trong chương Chu thư của sách Kinh Thư.2. Về tựa đề bài CáoNhững quan niệm khác nhau về ý nghĩa của chữ Ngô trong Bình Ngô đại Ngô Một cách gọi theo thói quen của người Việt Nam thời đó để chỉ chung người trung Ngô tên vùng đất xuất thân của Chu Nguyên Chương tức Minh Thành tổ.- Ngô Một cách gọi của nhân dân để chỉ những tên giặc gian ác, tàn PHÂN TÍCH1. Nêu luận đề chính nghĩa- Luận đề này được xây dựng dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa 3 yếu tố Nhân nghĩa, dân và nước+ Nhân nghĩa điếu dân phạt tội, bênh vực cho kẻ khốn cùng, chống lại các thế lực phi nhân.+ Dân Dân trong tác phẩm là những người thuộc tầng lớp thấp nhất nhưng lại chiếm đa số trong xã hội nông nghiệp thời đó. ó là những dân đen, con đỏ, thương sinh, phu phen, manh lệ, những người có vai trò lịch sử quan trọng, góp phần đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước.+ Nước Khái niệm nước bao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố.* Văn hiến* ịa lý* Phong tục tập quán* Các triều đại chính trị* Hào kiệtTruyền thống lịch sử vẻ vang Những quan niệm của Nguyễn Trãi trong bài Cáo về Nhân nghĩa, Dân, Nước đều xuất phát từ chính thực tiễn kế thừa phát triển của truyền thống yêu nước, phù hợp với đạo đức truyền thống và hoàn cảnh lịch sử đương thời. Những quan niệm này, so với trước, đã có nhiều biến đổi, phát triển do sự chi phối của hoàn cảnh lịch Vạch trần tội ác giặc Các nhà nghiên cứu xem đoạn văn này là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác khủng khiếp của giặc Minh trong 20 năm trên mảnh đất ại đảm bảo vừa tăng cường sức thuyết phục vừa đạt được tính cô đọng, hàm súc của ngôn từ văn chương, Nguyễn Trãi sử dụng đan xen, kết hợp hài hòa giữa những hình ảnh mang tính chất khái quát với những hình ảnh có tính cu, sinh động. Tập trung miêu tả hình ảnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã khái quát toàn vẹn nưng phẩm chất tiêu biểu nhất của con người yêu nước ở thế kỷ XV. Những đặc điểm của con người yêu nước trong văn học thời kỳ này thường có đặc điểm sau- Xuất thân bình thường* Ta đâyNúi Lam Sơn dấy nghĩaChốn hoang dã nương mình- Có tấm lòng căn thù giặc sâu sắc* Ngẫm thù lớn há đội trờiCăm giặc nước thề không cùng sống- Khởi đầu gặp nhiều khó khăn nhưng luôn có tinh thần vượt khó, kiên trì* Trời thử lòng trao cho mệnh lớnTa gắng chí khắc phục gian nan- Biết tập hợp, đoàn kết toàn dân* Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phất phớiTướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào- Biết sử dụng chiến lược, chiến thuật tài tình* Thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnhDùng quân mai phục lấy ít địch nhiều- Biết nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa trong mọi hoạt động* em đại nghĩa để thắng hung tànLấy chí nhân mà thay cường bạoCó thể nói, Lê Lợi chính là hình ảnh tiêu biểu của những con người yêu nước dám hy sinh quên mình đứng dậy chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân Miêu tả quá trình kháng chiến- Ở đây, ta không tìm thấy những anh hùng cá nhân trong văn chương trung đại hay trong các tác phẩm anh hùng ca của Hy Lạp cổ đại. Bài Cáo tập trung làm sáng rõ vai trò của một tập thể anh hùng, những người mà trước kia văn học bác học chưa quan tâm đi sâu, khai Tuy nhiên, đối với tướng giặc, tác giả lại miêu tả đầy đủ, cụ thể từng gương mặt, họ tên, chức tước và tư thế thất bại của từng tên Cách sử dụng liệt kê ngày tháng thể hiện rõ nhịp độ dồn dập của những trận chiến Tuyên bố hòa bình, xây dựng vương triều mới- Nhịp thơ dàn trải, trang Khẳng định thế thịnh suy tất Tổng kếtDàn ý Thuyết minh một tác phẩm văn học Bình ngô đại cáo - Mẫu 31, Mở bài “Bình Ngô Đại Cáo”– Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Trãi tư tưởng chủ đạo, các sáng tác chính, đặc điểm sáng tác,…– Dẫn dắt vấn đề thuyết minh khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo”.2, Thân bàia, Aiới thiệu hoàn cảnh ra đời của tác phẩmSau khi đánh tan giặc Minh xâm lược, Nguyễn Trãi đã thừa lệnh Lê Lợi viết tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” hay còn gọi là “Đại cáo Bình Ngô” và chính thức công bố trước toàn thể nhân dân vào tháng Chạp, năm Đinh Mùi, tức là vào đầu năm thể loại cáo– Một thể loại văn học có nguồn gốc từ Trung Hoa.– Được viết bằng chữ Hán, có thể được viết bằng văn xuôi hoặc văn vần nhưng phổ biến hơn cả là văn biền ngẫu.– Cáo là thể văn thường được vua, chúa hoặc thủ lĩnh dùng để thông báo rộng rãi tới toàn thể mọi người một sự việc hay một vấn đề trọng đại nào đó.– Kết cấu chặt chẽ, mạch lạc, lập luận sắc bén và lí lẽ thuyết phụcc, Bố cụcGồm bốn đoạn– Đoạn một nêu lên luận đề chính nghĩa để làm cơ sở, nền tảng vững chắc cho bài cáo.– Đoạn hai vạch rõ những tội ác man rợn, dã man của kẻ thù và làm bật nổi ý chí và lòng căm thù giặc sâu sắc của nhân dân ta– Đoạn ba tái hiện lại một cách chân thực, sâu sắc và rõ nét quá trình chiến đấu, chinh phạt với thật nhiều những khó khăn, vất vả và sự tất thắng của quân và dân ta.– Đoạn bốn lời tuyên bố độc lập, khẳng định sự nghiệp chính Những đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm– Kết hợp nhuần nhuyễn, hài hòa và hợp lí giữa yếu tố chính luận với yếu tố văn chương với nhiều hình ảnh độc đáo, hấp dẫn.– Giọng điệu hết sức linh hoạt, đa dạng, phù hợp với từng nội dung mà báo cáo thể hiện – tự hào về truyền thống văn hóa, lịch sử ngàn đời của dân tộc, căm phẫn khi vạch rõ tội ác của kẻ thù, trịnh trọng, nghiêm trang khi tuyên bố độc lập,…3, Kết bàiKhái quát giá trị, ý nghĩa của văn bản trong nền văn học và nêu cảm nghĩ của bản đã giới thiệu tới bạn đọc bài Dàn ý Thuyết minh một tác phẩm văn học Bình ngô đại cáo. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài học rồi đúng không ạ? Bài viết được tổng hợp gồm có 3 mẫu dàn ý thuyết minh. Hi vọng qua bài viết bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10 nhé. Để có kết quả cao hơn trong học tập, VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh cùng tham khảo thêm một số tài liệu học tập các môn tại các mục sau Giải bài tập Lịch Sử 10, Giải bài tập Địa 10, Học tốt Ngữ văn 10, Tài liệu học tập lớp 10 mà VnDoc tổng hợp và đăng giúp bạn đọc có thể giải đáp được những thắc mắc và trả lời được những câu hỏi khó trong quá trình học tập. mời bạn đọc cùng đặt câu hỏi tại mục hỏi đáp học tập của VnDoc. Chúng tôi sẽ hỗ trợ trả lời giải đáp thắc mắc của các bạn trong thời gian sớm nhất có thể nhé.
dàn ý đại cáo bình ngô