3. Giai đoạn khởi phát muộn. Xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra ở trẻ từ 2 tuần đến 6 tháng tuổi được gọi là xuất huyết ở giai đoạn khởi phát muộn. Bệnh này thường xảy ra ở những trẻ không được tiêm vitamin K. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: Hàm lượng vitamin K trong Dưới đây là các triệu chứng sốt xuất huyết ở trẻ em nhỏ đặc biệt là trẻ sơ sinh giúp cha mẹ dễ nhận biết: Buồn ngủ, thiếu năng lượng hoặc cáu kỉnh. Trẻ em có một hệ thống miễn dịch đang phát triển có thể làm tăng tác động tiêu cực của bệnh sốt xuất 3. Chọc dò dịch não tủy. - Để chẩn đoán xuất huyết não màng não. - Không nên thực hiện ở trẻ suy hô hấp, suy tuần hoàn hoặc hôn mê nặng. 4. Siêu âm xuyên thóp. - Là phương pháp vô hại đối với trẻ, dễ dàng thực hiện. 5. Chụp cắt lớp CT scan. . Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ Nguyễn Hùng Tiến - Khoa Nhi - Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Xuất huyết não, màng não ở trẻ em hoàn toàn khác với ở người lớn và người cao tuổi về nguyên nhân, biểu hiện bệnh, điều trị và dự phòng. Bệnh khá phổ biến ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta. Đây là một bệnh rất nặng, tỷ lệ tử vong cao, từ 25-40% trẻ mắc bệnh, tỷ lệ để lại di chứng tới 40-50%. 1. Vì sao trẻ bị xuất huyết não? Xuất huyết não, màng não là tình trạng chảy máu não, màng não do vỡ bất kì một mạch máu nào trong não. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao và để lại di chứng nặng huyết não ở trẻ em là một bệnh cảnh nặng cấp tính do nhiều nguyên nhân như chấn thương sọ não do tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, các bệnh lý huyết học gây rối loạn đông máu khác... Trong đó, rối loạn đông máu do thiếu vitamin K là nguyên nhân nghiên cứu, Vitamin K tham gia vào quá trình tổng hợp một số yếu tố đông máu ở gan. Thiếu các yếu tố này cơ thể dễ bị chảy máu. 90% trẻ xuất huyết não do thiếu vitamin K thường xảy ra vào lúc 45-60 ngày tuổi, trên độ tuổi nhân thiếu vitamin K ở trẻ nhỏ là doVitamin K được cung cấp từ mẹ sang thai nhi qua rau thai, lượng này rất nhỏ, và phần chính vitamin K mà trẻ nhỏ nhận được qua sữa mẹ. Tuy nhiên vitamin K trong sữa mẹ thấp hơn sữa bò, sữa bột nhân tạo. Lượng vitamin K trong sữa mẹ thay đổi từ khoảng 20-30 microgam/lít; trong khi ở sữa bột nhân tạo, lượng vitamin K có trên 50 microgam/ của người mẹ không được ăn bồi dưỡng trong những tháng cuối của thời kỳ thai, ở những người mẹ ăn kiêng khem sau sinh như kiêng ăn mỡ, dầu, lượng vitamin K trong sữa mẹ càng trẻ nhỏ sau khi sinh, lúc một tháng tuổi, vi khuẩn có khả năng tổng hợp vitamin K ở ruột chưa đủ, do đó trẻ nhỏ càng dễ bị thiếu vitamin K dẫn đến xuất huyết não, màng não hơn trẻ trẻ nhỏ phải dùng kháng sinh sớm, bị rối loạn tiêu hóa cũng làm cho nguồn vitamin K tổng hợp ở ruột bà mẹ có dùng các thuốc như rifamycin, isoniazid, bacbiturat hoặc bị nhiễm dioxin trong thời kỳ mang thai cũng dễ bị xuất huyết hơn con của các bà mẹ không dùng thuốc trong thời kỳ mang thai. Trẻ bị xuất huyết não, màng não dù được điều trị tích cực nhưng tỉ lệ tử vong rất cao từ 25 – 40%, hoặc để lại di chứng 40-50%.Các di chứng hay gặp nhất ở trẻ bị xuất huyết não gồm cóĐộng kinh;Liệt vận động;Chậm phát triển tinh thần;Ứ nước não thất, khiến trẻ bị tàn tật suốt xuất huyết não ở trẻ em nguy hiểm như vậy song lại hoàn toàn có thể dự phòng được và chữa khỏi, ít di chứng nếu như phát hiện được bệnh sớm. Rối loạn đông máu do thiếu vitamin K là nguyên nhân chính gây xuất huyết não ở trẻ 3. Dấu hiệu nhận biết xuất huyết não, màng não ở trẻ Xuất huyết não, màng não ở trẻ chủ yếu là do thiếu vitamin K. Bệnh xảy ra rất nhanh và có các dấu hiệu sauĐột nhiên thấy da trẻ xanh tái đi, bỏ bú, nôn trớ rồi trẻ khóc thét, rên bị co giật, mất ý thức và hôn tiếp tục co giật toàn thân hoặc co giật cục bộ ở một chi, ở mặt hay nửa người, sụp mí trẻ có biểu hiện thở không đều hoặc có từng lúc ngừng thở. Tình trạng bệnh nhi lúc này rất nguy để ý kỹ, người mẹ có thể phát hiện thấy thóp của trẻ phồng, da trẻ có một số biểu hiện xuất huyết như có chỗ bầm tím, với trẻ trong tuần đầu sau sinh có biểu hiện chảy máu rốn kéo dài và nếu trẻ có tiêm chích thì chỗ tiêm chích bầm có biểu hiện xuất huyết ở da, ở rốn, ở chỗ tiêm chích nên đưa trẻ đi khám sớm để phát hiện tình trạng dễ chảy máu và được điều trị sớm, không để xảy ra xuất huyết não, màng biểu hiện bệnh như trên xảy ra vào khoảng 30-60 ngày tuổi có thể nghi ngờ ngay là xuất huyết não, màng não. Xét nghiệm thấy có thiếu máu, chọc dò nước não tủy thấy dịch chảy ra màu hồng. 4. Điều trị và dự phòng xuất huyết não, màng não ở trẻ Xuất huyết não, màng não ở trẻ nhỏ là một bệnh nặng phải được đưa đi điều trị cấp cứu tại bệnh viện Xuất huyết não, màng não ở trẻ nhỏ là một bệnh nặng phải được đưa đi điều trị cấp cứu tại bệnh Điều trị xuất huyết não, màng nãoXuất huyết não, màng não ở trẻ nhỏ là một bệnh nặng phải được điều trị cấp cứu tại bệnh viện, không thể chữa tại nhà hoặc ở các phòng mạch, do đó khi có các biểu hiện nghi ngờ là xuất huyết não, màng não như đã nói đến ở trên thì người nhà phải nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện để chẩn đoán xác là do thiếu vitamin K thì trẻ phải được điều trị tích cực bằng việc tiêm vitamin K, truyền máu và chăm sóc, theo dõi đặc biệt, chống co giật, hỗ trợ thở và cung cấp dinh dưỡng vì trẻ bị hôn mê, không bú khi cầm máu, chảy máu màng não ổn định, nếu có ổ máu tụ có thể phải can thiệp phẫu thuật lấy máu tụ. Bằng phương pháp điều trị khẩn trương, tốn kém như trên, nhưng tỷ lệ tử vong, di chứng vẫn còn cao, vì thế nên việc dự phòng xuất huyết não, màng não cho trẻ nhỏ là rất quan Các biện pháp dự phòng xuất huyết não, màng nãoBệnh xuất huyết não, màng não ở trẻ nhỏ hoàn toàn có thể dự phòng được bằng việc các bà mẹ ngay từ trong thời kỳ còn mang thai nên chú ý tới việc chăm sóc sức khỏe cho mình như bổ sung thêm vitamin K qua các loại thực phẩm như rau xanh, ngũ cốc, sữa, trứng gà, đậu phụ, thịt lợn nạc, thịt bò...Sau khi sinh, nên cung cấp vitamin K cho tất cả trẻ mới sinh tiêm cho tất cả các trẻ mới sinh một mũi vitamin K1 lĩnh vực trọng điểm của hệ thống Y tế Vinmec, Khoa Nhi luôn mang lại sự hài lòng cho Quý khách hàng và được các chuyên gia trong ngành đánh giá cao vớiQuy tụ đội ngũ y bác sĩ về Nhi khoa gồm các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giàu kinh nghiệm, từng công tác tại các bệnh viện lớn như Bạch Mai, 108.. Các bác sĩ đều được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, có tâm - tầm, am hiểu tâm lý trẻ. Bên cạnh các bác sĩ chuyên khoa Nhi trong nước, khoa Nhi còn có sự tham gia của các chuyên gia nước ngoài Nhật Bản, Singapore, Úc, Mỹ luôn tiên phong áp dụng những phác đồ điều trị mới nhất và hiệu quả vụ toàn diện Trong lĩnh vực Nhi khoa, Vinmec cung cấp chuỗi các dịch vụ khám - chữa bệnh liên hoàn từ Sơ sinh đến Nhi và Vaccine,... theo tiêu chuẩn Quốc tế để cùng bố mẹ chăm sóc sức khỏe bé từ khi lọt lòng đến tuổi trưởng thànhKỹ thuật chuyên sâu Vinmec đã triển khai thành công nhiều kỹ thuật chuyên sâu giúp việc điều trị các căn bệnh khó trong Nhi khoa hiệu quả hơn phẫu thuật thần kinh - sọ, ghép tế bào gốc tạo máu trong điều trị ung sóc chuyên nghiệp Ngoài việc thấu hiểu tâm lý trẻ, Vinmec còn đặc biệt quan tâm đến không gian vui chơi của các bé, giúp các bé vui chơi thoải mái và làm quen với môi trường của bệnh viện, hợp tác điều trị, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tại sao con người dễ bị bầm tím? Sự phát triển và đặc điểm hệ thần kinh ở trẻ em Bệnh nhân tiểu đường nên được tiêm các loại vắc xin này hàng năm Dịch vụ từ Vinmec I. ĐẠI CƯƠNG Xuất huyết não – màng não là chảy máu não, màng não do vỡ bất kì một mạch máu nào trong não. Nguyên nhân, hình thái, biểu hiện tuỳ theo lứa tuổi. Tỷ lệ tử vong cao và để lại di chứng nặng nề. II. NGUYÊN NHÂN Do thương tổn trong quá trình đẻ Chấn thương sản khoa do Thai quá to so với khung chậu người mẹ Ngôi thai bất lợi. Dây rau cuốn cổ gây khó đẻ. Ối vỡ sớm, ối vỡ non. Đẻ quá nhanh hoặc thời gian chuyển dạ kéo dài. Đẻ phải can thiệp Forcep, giác hút… Tuổi thai Thai non tháng do mạch máu còn yếu, dự trữ vitamin K ít. Thai già tháng cũng là một yếu tố gây chảy máu do thai quá lớn, do suy thoái bánh rau dẫn tới thiếu O2 cho thai. Do đặc điểm của hệ cầm máu Ở trẻ sơ sinh, hệ đông cầm máu chưa hoàn chỉnh. Cấu tạo thành mạch còn mỏng. Đám rối quanh não thất được tăng tưới máu và là tổ chức non yếu của não nên dễ bị xuất huyết. Giảm Prothombin sinh lí ngay ngày đầu và ngày thứ 3, thứ 5 sau đẻ do thiếu vitamin K. Tổn thương thiếu Oxi do rối loạn tuần hoàn, suy hô hấp sơ sinh. Thuốc Sử dụng các dung dịch ưu trương. Dung dịch Natri bicarbonat trong hồi sức sơ sinh quá liều lượng. Nguyên nhân khác Rối loạn đông máu. Bệnh máu giảm tiểu cầu vô căn. Dị dạng mạch não… III. CHẨN ĐOÁN Ở TRẺ SƠ SINH Lâm sàng Chảy máu dưới màng nhện Bệnh thường xảy ra trong những ngày đầu sau sinh do vỡ màng ối sớm, chuyển dạ kéo dài, ngôi thai bất lợi, đẻ non là những nguy cơ của chảy máu trong sọ. Tai biến có thể xảy ra tức thì, cũng có khi muộn, thường xảy ra càng sớm thì bệnh càng trầm trọng. Thể sớm xảy ra ngay sau đẻ; gồm hai thể Thể ngạt trắng Trẻ sơ sinh da trắng bệch, bất động, không khóc, không thở, tim đập yếu, thân nhiệt hạ, thóp lõm. Hồi sức sơ sinh có thể thở trở lại, tim đập yếu, da xanh tái nhưng rồi vẫn tử vong. Thể ngạt tím Trẻ đờ đẫn, bất động, không khóc, không thở, tim đập yếu, tím toàn thân. Hồi sức sơ sinh có kết quả, có thể tránh được tử vong. Thể muộn Thường xảy ra ngày thứ 2, thứ 5 sau đẻ. Trẻ thường có biểu hiện Cơn xanh tím, ngừng thở là triệu chứng hay gặp Sơ sinh tím tái toàn thân. Thở không đều, tim đập yếu. Hồi sức Oxi có thể hồng lại nhưng hay tái diễn rồi tử vong. Cơn co giật toàn thân và các dấu hiệu thần kinh khác thay đổi tuỳ theo BN Hôn mê, li bì. Rung giật toàn thân hoặc co cứng toàn thân. HC màng não - hoặc +. BN có thóp phồng hoặc không, khớp sọ giãn. Dấu hiệu TK khu trú, lác mắt, sụp mi, liệt nửa người. Xuất huyết não thất nhỏ có thể không có biểu hiện triệu chứng thần kinh. Rối loạn cơ lực Lúc đầu có thể tăng trương lực cơ, cổ ngửa ra sau, hoặc cơn dạng Tetani. Sau trương lực cơ giảm, trẻ mềm nhũn. Rối loạn thân nhiệt thân nhiệt tăng > 390 hay giảm Trẻ hôn mê, co giật, tử vong nhanh. Có khi phối hợp với chảy máu trong não, thân não, hành tuỷ. =>Trẻ hôn mê, tỉnh lại rồi lại hôn mê. Các dấu hiệu thần kinh khu trú co giật một bên, liệt nửa người, giãn đồng tử một bên thường có giá trị. Chảy máu dưới màng cứng Thường chảy máu dưới màng cứng mạn tính. Hay gặp ở trẻ đẻ đủ tháng, có cân nặng lớn, gặp ở trẻ 1 – 2 tháng tuổi. Triệu chứng Thiếu máu. Thóp căng phồng, tăng thể tích hộp sọ. Liệt TK khu trú. Điều trị cần dẫn lưu máu tụ dưới màng cứng. Cận lâm sàng Dịch não tuỷ Chọc dò dịch não tuỷ ra máu không đông, đôi khi dịch trong do xuất huyết trên lều tiểu não, xuất huyết ngoài màng cứng. Xét nghiệm dịch não tuỷ thấy Albumin tăng và nhiều hồng cầu. Siêu âm qua thóp Siêu âm qua thóp là XN có giá trị, xác định được vị trí và mức độ tổn thương Độ 1 chảy máu mạch mạc quanh não thất. Độ 2 chảy máu trong não thất. Độ 3 chảy máu trong não thất và gây giãn não thất. Độ 4 độ 3 và xuất huyết trong não. Ở trẻ sơ sinh non tháng, đặc biệt trẻ 38,5 độ à hạ sốt. Hạ nhiệt à ủ ấm. Chăm sóc Để trẻ nằm yên tĩnh, nâng cao đầu 20 – 30o nghiêng phải và sau luôn phải thay đổi tư thế để giảm áp lực nội sọ và giảm chệch bản lề khớp sọ. Trẻ hôn mê phải xoa bóp, thay đổi tư thế, tránh loét, ủng mục. Nuôi dưỡng qua sonde hoặc bằng đường TM. Theo dõi sát diễn biến bệnh để phát hiện các bất thường. Can thiệp ngoại khoa nếu cần Mổ lấy máu tụ nếu có máu tụ khu trú dưới màng cứng hoặc trong nhu mô. Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa II Cao Thị Thanh - Bác sĩ Nhi - Khoa Nhi - Sơ sinh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Nguyên nhân gây ra bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh là do hệ miễn dịch và chức năng đông máu của trẻ sơ sinh vẫn còn rất vậy, khi xuất hiện dấu hiệu xuất huyết dưới da ở trẻ sơ sinh là tình trạng rất nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong ở trẻ. Xuất huyết chảy máu nói chung là tình trạng máu bao gồm cả 2 thành phần huyết tương và thành phần hữu hình thoát ra khỏi hệ thống tuần hoàn. Dựa vào tính chất, mức độ và vị trí xuất huyết mà có tên gọi khác nhau, như Xuất huyết não, xuất huyết dưới da, xuất huyết dạ dày...Bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh là tình trạng xuất huyết không thường xảy ra co nguy cơ tiềm ẩn nguy cơ đe dọa tính mạng trẻ sơ sinh. Hiện nay, Bộ Y tế đã cho thực hiện việc cung cấp vitamin K cho trẻ ngay sau khi sinh nhằm bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ xuất huyết não, màng não do thiếu vitamin K. Việc cung cấp vitamin K cho trẻ sơ sinh được thực hiện theo hai hình thức Uống hoặc tiêm. 2. Các triệu chứng của xuất huyết ở trẻ sơ sinh Triệu chứng bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh như tiên là dấu hiệu xuất hiện máu trong nước tiểu hoặc phân, bà mẹ nên xem xét đến nguy cơ cao bé đang bị xuất hiệu xuất huyết ở trẻ sơ sinh cũng có thể xuất hiện thông qua các vết bầm tím hoặc khối u trên trạng xuất huyết ở trẻ sơ sinh còn có nguy cơ diễn ra ở một số khu vực như vùng rốn hoặc ở màng nhầy mũi và miệng. Chảy máu ở dương vật trong trường hợp cắt bao quy đầu. Hoặc ở những nơi kim đâm khi đi tiêm chủng, truyền dịch IV....Những dấu hiệu khác như da nhợt nhạt, bé khó chịu hoặc buồn ngủ quá mức. Hiện tượng động kinh hoặc vàng mắt 3 tuần sau khi sinh cũng là các biểu hiện về bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh. Triệu trứng đầu tiên của bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh là xuất hiện máu trong nước tiểu hoặc phân. 3. Nguyên nhân xuất huyết ở trẻ sơ sinh Xuất huyết ở trẻ sơ sinh thường do nguyên nhân thiếu hụt vitamin K. Thiếu vitamin K làm giảm khả năng đông máu. Trong khi đó, trẻ sơ sinh chưa có khả năng tổng hợp, lưu trữ vitamin K trong cơ thể. Sữa mẹ cũng không cung cấp đầy đủ nguồn vitamin K để bé phát triển khỏe mạnh. 4. Các giai đoạn của bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh Giai đoạn khởi phát sớm Đây là tình trạng xuất huyết ở trẻ sơ sinh diễn ra trong vòng 24 giờ sau sinh. Trong một số trường hợp bệnh xảy ra ngay sau 1 tiếng đầu tiên sau sinh. Nguyên nhân là do tiền sử sử dụng chất làm loãng máu như warfarin và thuốc chống động kinh của người mẹ trong thai kỳ. Ngoài ra việc bà mẹ sử dụng thuốc kháng sinh như cephalosporin hoặc thuốc chống co giật cũng gây khó khăn trong chuyển hóa vitamin đoạn khởi phát cơ bản Đây là hiện tượng xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra trong vòng 2 – 7 ngày sau sinh. Chủ yếu diễn ra ở trẻ sơ sinh chưa tiêm hoặc uống bổ sung vitamin K dự phòng khi sinh. Trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn và không tiêm bổ sung vitamin K cũng có nguy cơ cao gặp bệnh xuất đoạn khởi phát muộn Hiện tượng xuất huyết ở trẻ sơ sinh xảy ra trong thời gian từ 2 tuần – 6 tháng. Đây là hiện tượng phổ biến trong trường hợp trẻ chưa tiêm vitamin K. 5. Phòng ngừa bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh Biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh chính là tiêm vitamin K sau khi sinh. Chỉ cần 1 mũi tiêm trẻ đã nhận được sự bảo vệ thoát khỏi bệnh xuất huyết. Tuy nhiên điều này cũng tùy thuộc vào sức đề kháng và tình trạng sức khỏe của hợp đang mang thai và có sử dụng các thuốc chống loãng máu hoặc chống động kinh, cần phải thông báo trước với bác sĩ để có những biện pháp kịp thời bảo vệ bé khỏi nguy cơ xuất huyết ở trẻ sơ tìm hiểu kỹ vai trò vitamin K và mối quan hệ của nó với bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh là điều rất quan trọng trước và trong thời kỳ mang thai. Có như vậy bạn mới có đủ kiến thức và kĩ năng để bảo vệ con bạn tránh khỏi căn bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh đầy nguy Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hiện có dịch vụ thai sản trọn gói như một giải pháp giúp mẹ bầu an tâm vì đã có sự đồng hành của đội ngũ y bác sĩ trong suốt thai kỳ. Khi lựa chọn Thai sản trọn gói, thai phụ đượcQuá trình mang thai được theo dõi bởi đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn caoThăm khám đều đặn, phát hiện sớm các vấn đề bất thườngThai sản trọn gói giúp thuận tiện cho quá trình sinh đẻTrẻ sơ sinh được chăm sóc toàn diện Để phòng bệnh xuất huyết ở trẻ sơ sinh hãy cho trẻ tiêm vitamin K sau khi sinh Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Khi nào cần dùng vitamin K1 tiêm tĩnh mạch? Hướng dẫn bổ sung vitamin K cho trẻ em và người lớn Theo dõi, chăm sóc bà mẹ và trẻ trong 2 giờ đầu ngay sau sinh Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Ân - Bác sĩ Nhi - Sơ sinh - Khoa Nhi - Sơ sinh - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hạ Long. Bác sĩ là người rất tâm huyết với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và có kinh nghiệm điều trị thành công nhiều ca bệnh xuất huyết não - màng sớm ở trẻ nhỏ. Xuất huyết ở trẻ sơ sinh là một tình trạng nguy hiểm, thường gặp nhất là xuất huyết dưới da, xuất huyết não, màng não...Xuất huyết não đến mức độ nghiêm trọng dẫn đến chèn ép hoặc tổn thương mô não dẫn đến tỷ lệ tử vong cao, tỷ lệ để lại di chứng tới 40-50%. 1. Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là gì? Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là một trong những chấn thương khi sinh, có mức độ từ nhẹ đến cực kỳ nghiêm nhân của xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có thể là do ngạt khi sinh, vì thiếu oxy trong lúc chuyển dạ hoặc ngay sau chào đời, hoặc do các chấn thương khi sinh, chấn thương do lực cơ học quá mức tác động trên đầu của trẻ, có thể do rối loạn đông máu. Trong nhiều trường hợp, đây cũng có thể là biến chứng xuất phát từ những sơ suất y tế trong quá trình đỡ sinh. Ví dụ, các bác sĩ có thể sử dụng sai cách các công cụ như kẹp gắp và giác hút...Cho dù là nguyên nhân nào, cần bắt buộc phải chẩn đoán xuất huyết não ở trẻ sơ sinh càng sớm càng tốt để trẻ được điều trị kịp thời và hạn chế di chứng nặng nề trong tương lai. 2. Các loại xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là gì? Có nhiều loại xuất huyết não ở trẻ sơ sinh khác nhau, bao gồm xuất huyết nội sọ bên trong não và xuất huyết ngoại sọ bên ngoài não. Xuất huyết nội sọ Đột quỵ thể xuất huyết Đột quỵ thể xuất huyết xảy ra khi mạch máu bị vỡ ra, gây chảy máu lan tràn trong nhu mô não. Điều này có thể khiến một nhóm tế bào não bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Đột quỵ xuất huyết cũng có thể dẫn đến sự tích tụ áp lực, gây kích thích và sưng phù nhu mô não, cuối cùng gây tổn thương não ở trẻ sơ sinh. Xuất huyết dưới nhện Xuất huyết dưới nhện được đặc trưng bởi chảy máu từ các mạch máu trong khoang dưới nhện, là khu vực trong cùng của hai màng bao phủ nhu mô não. Xuất huyết não thất Xuất huyết não thất xảy ra khi có chảy máu vào hệ thống não thất trong nhu mô não, nơi vốn có chức năng sản xuất và dẫn lưu dịch não tủy. Đây là một loại chảy máu nội sọ rất nghiêm trọng và thường thấy ở trẻ sinh non và trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh thấp. Cơ chế là do các mạch máu trong não của trẻ sinh non chưa phát triển đầy đủ và do đó sẽ yếu hơn so với trẻ đủ tháng. Không những vậy, tình trạng thiếu oxy và các chấn thương khi sinh cũng có thể góp phần gây xuất huyết não thất. Xuất huyết não thất thường xuyên xảy ra đối với trẻ sinh non Xuất huyết dưới màng cứng và tụ máu dưới màng cứng Xuất huyết dưới màng cứng xảy ra khi có một hoặc nhiều mạch máu trong không gian dưới màng cứng vỡ ra. Nguyên nhân gây vỡ các mạch máu tại vị trí này thường do các chấn thương, có thể bao gồm cả chấn thương trong lúc chuyển dạ. Xuất huyết ngoại sọ Tụ máu đầu Một vết sưng trên da đầu, có thể kèm theo xuất huyết, trải dài theo viền miệng của máy hút đặt trên đầu trẻ. U máu đầu U máu đầu là một dạng xuất huyết não đặc trưng bởi sự chảy máu xảy ra giữa hộp sọ và lớp da đầu. Đây có thể là tình trạng nặng nề hơn của tụ máu đầu khi dùng giác hút hay đầu trẻ nằm quá lâu trong đường sinh dục dưới của mẹ trong khi chuyển dạ kéo dài. U máu đầu có thể tự biến mất, nhưng cần được theo dõi cẩn thận bởi các bác sĩ sơ sinh. Đôi khi em bé cần điều trị các biến chứng liên quan như thiếu máu và vàng da. Tụ máu ngoài màng cứng Tình trạng có sự hiện diện của máu tích tụ ở khu vực giữa lớp màng cứng và hộp sọ, nơi vốn chỉ có mô liên kết lỏng lẻo. 3. Yếu tố nguy cơ xuất huyết não ở trẻ sơ sinh như thế nào? Các yếu tố nguy cơ thường gặp và nguyên nhân gây xuất huyết nội sọ ở trẻ bao gồmThai to Đây là một tình trạng mang thai trong đó thai nhi có kích thước lớn hơn mức độ trung bình đối với tuổi thai, có thể làm cho quá trình chuyển dạ sinh đường âm đạo trở nên nguy cân xứng đầu chậu Bất cân xứng đầu chậu cũng thuộc một trong những vấn đề tương tự như thai to. Bên cạnh đó còn có sự không phù hợp về kích thước giữa đầu thai nhi và khung xương chậu mẹ khi đầu to bất thường và/hoặc xương chậu nhỏ một cách bất thai, phần trình diện của thai nhi bất thường, chẳng hạn như ngôi mông, ngôi mặt hoặc ngôi thương do chuyển dạ kéo loạn về đông cầm máu, chẳng hạn như thiếu vitamin K hoặc bệnh máu khó đông bẩm não do thiếu oxy gây thiếu máu cục bộ Bệnh não do thiếu oxy gây thiếu máu cục bộ là một chấn thương não sơ sinh nguy hiểm do giảm oxy và lưu lượng máu đến trẻ tại hoặc gần thời điểm sinh. Việc thiếu lưu lượng máu dẫn đến chết các tế bào hàng loạt và khiến các thành mạch máu bị phá vỡ, dẫn đến chảy máu ra khỏi lòng can thiệp y tế trong quá trình chuyển dạ như kẹp gắp hay dùng máy hútRặn sinh không đúng giai đoạn Kỹ thuật rặn sinh không đúng cách. Đồng thời, người đỡ sinh vặn hoặc kéo quá mức trên đầu trẻ sơ sinh... Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có thể do sự bất thường của ngôi thai 4. Dấu hiệu và triệu chứng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh có nguy hiểm không? Các triệu chứng xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh sẽ thay đổi dựa trên loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh lý. Trong đó, những dấu hiệu sau đây sẽ tương đối thường kém hoặc bỏ búKhóc thétThóp phồngTri giác giảm sút, lừ đừ, ngủ gàĐộng kinhCó cơn ngưng thở kéo dàiThở nông hoặc thở nhanh 5. Chẩn đoán xuất huyết não ở trẻ sơ sinh như thế nào? Khi có các dấu hiệu xuất huyết não hay nghi ngờ khả năng này có thể xảy ra, nhất là trên các trẻ sơ sinh có nguy cơ cao, việc chẩn đoán xuất huyết não sẽ cần phải sử dụng các công cụ hình ảnh để xác nhận sự hiện diện của máu tự do trong hộp sọ. Các phương tiện phổ biến bao gồm Siêu âm Doppler xuyên sọ Bằng cách sử dụng sóng âm thanh để đo lưu lượng, tốc độ dòng máu và sự cản âm của các cấu trúc, siêu âm Doppler xuyên sọ là một xét nghiệm không xâm lấn, cung cấp hình ảnh về lưu lượng máu tổng thể trong toàn bộ nhu mô não. Phương tiện này khá được ưa chuộng ở trẻ em nhờ vào các thóp sọ - đóng vai trò như các “cửa sổ” tự nhiên. Chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp sọ não MRI hay CT Scan Những phương tiện hình ảnh học này được thực hiện khá dễ dàng, cho thấy chi tiết các cấu trúc trong sọ não. Tuy nhiên, đây là tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm tia X ở trẻ nhỏ. Chụp động mạch có cản quang Đây là một thủ thuật xâm lấn. Trong đó, bác sĩ sẽ luồn một ống mỏng, kích thước rất nhỏ được đưa vào các mạch máu dẫn máu trực tiếp đến não và sau đó bơm thuốc nhuộm tương phản vào. Hình ảnh mạch máu quan sát được sẽ hiện rõ lên nhờ độ tương phản của thuốc trong lòng mạch. Nếu thuốc thoát ra khỏi lòng mạch là bằng chứng rõ ràng cho chẩn đoán xuất huyết não. Tuy nhiên, phương tiện này không được ưu tiên sử dụng đầu tiên do có nguy cơ gây tổn thương khi thực hiện thủ thuật, đồng thời cũng có nguy cơ phơi nhiễm tia X và các tai biến khi dùng thuốc cản quang. 6. Các cách điều trị xuất huyết nội sọ ở trẻ sơ sinh? Điều trị xuất huyết não ở trẻ sơ sinh phụ thuộc phần lớn vào kích thước của khối máu chảy, nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ cũng như đặc điểm về thể trạng hiện thời của lựa chọn điều trị có thể bao gồm điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa tùy theo nguyên nhân xuất huyết; phương pháp điều trị ngoại khoa tiếp cận dưới da sửa chữa các mạch máu bất thường, bao gồm dùng ống thông, keo sinh học, bơm bóng chèn hoặc bít tắc, hay phẫu thuật mở sọ nếu khối máu lớn, có nguy cơ chèn ép. Từ đó, các kết quả cũng như di chứng lâu dài trong cuộc sống sau biến cố xuất huyết não ở trẻ sơ sinh sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nghiêm trọng của khối xuất huyết và quyết định điều trị, theo dõi ngày hôm lại, hành trang một trẻ sơ sinh cần phải vượt qua để cất tiếng khóc chào đời luôn ẩn chứa những rủi ro chấn thương, có thể từ nhẹ đến nặng, tùy thuộc vào loại chấn thương và phần nào của cơ thể bé bị ảnh hưởng. Trong đó, xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là một chấn thương khi sinh khá thường gặp vì nhiều lý do. Tuy nhiên, dù cho có là nguyên nhân nào, trẻ cũng luôn cần được điều trị ngay lập tức để đảm bảo kết quả tốt cũng như hạn chế di chứng về sau. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Tại sao con người dễ bị bầm tím? Sự phát triển và đặc điểm hệ thần kinh ở trẻ em Bệnh nhân tiểu đường nên được tiêm các loại vắc xin này hàng năm Nhiễm khuẩn sơ sinh là tình trạng bị các tác nhân vi sinh vật xâm lần, thường là do vi khuẩn xảy ra trong giai đoạn sơ sinh. Dấu hiệu nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh rất đa dạng và không đặc hiệu bao gồm giảm vận động, ăn bú kém, ngừng thở, tim chậm, thay đổi thân nhiệt, suy hô hấp, nôn, tiêu chảy, bụng chướng, rung cơ, co giật và vàng da. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và kết quả nuôi cấy. Việc điều trị ban đầu với ampicillin kết hợp với gentamicin hoặc cefotaxime, thu hẹp phổ kháng sinh ngay khi có kết quả vi khuẩn sơ sinh xảy ra trong khoảng từ 0,5 đến 8,0/1000 ca sinh. Tỷ lệ cao nhất xảy ra trong Trẻ sinh nhẹ cân LBWThiểu sốNam giới Khởi phát nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh có thể Sớm ≤ 3 ngày sau sinhMuộn sau 3 ngày Nhiễm khuẩn sơ sinh sớm thường do hậu quả nhiễm trùng từ trong tử cung. Hầu hết trẻ sơ sinh có các triệu chứng trong vòng 6 giờ sau sinh. Các trường hợp khác có xu hướng do trực khuẩn đường ruột gram âm gây ra ví dụ, các chủng Klebsiella Nhiễm trùng do Klebsiella, Enterobacter, và Serratia Vi khuẩn gram âm Klebsiella, Enterobacter và Serratia có liên quan mật thiết với hệ vi khuẩn đường ruột bình thường mà hiếm khi gây bệnh ở những người bình thường. Chẩn... đọc thêm và một số sinh vật gram dương Listeria monocytogenes Listeriosis Listeriosis là bệnh nhiễm trùng máu, viêm màng não, viêm não, viêm da, hội chứng tuyến mắt, nhiễm trùng tử cung và trẻ sơ sinh, hoặc hiếm khi gây viêm nội tâm mạc do loài Listeria. Các... đọc thêm , enterococci Nhiễm cầu khuẩn đường ruột Cầu khuẩn đường ruột là vi khuẩn gram dương, kị khí tuỳ tiện. Enterococcus faecalis và E. faecium gây ra một loạt các bệnh nhiễm trùng, bao gồm viêm nội tâm mạc, viêm đường tiết... đọc thêm [ví dụ, Enterococcus faecalis, E. faecium], liên cầu khuẩn nhóm D Nhiễm liên cầu Liên cầu là các vi khuẩn Gram dương hiếu khí gây ra nhiều chứng rối loạn, bao gồm viêm họng, viêm phổi, nhiễm trùng vết thương và da, nhiễm trùng huyết, và viêm nội tâm mạc. Các triệu chứng... đọc thêm [ví dụ, Streptococcus bovis], liên cầu tan huyết alpha Nhiễm liên cầu Liên cầu là các vi khuẩn Gram dương hiếu khí gây ra nhiều chứng rối loạn, bao gồm viêm họng, viêm phổi, nhiễm trùng vết thương và da, nhiễm trùng huyết, và viêm nội tâm mạc. Các triệu chứng... đọc thêm và tụ cầu Nhiễm trùng tụ cầu tụ cầu khuẩn là các vi khuẩn Gram dương, hiếu khí. Staphylococcus aureus là tác nhân gây bệnh nhiều nhất; nó thường gây ra nhiễm trùng da và đôi khi viêm phổi, viêm nội tâm mạc, và viêm... đọc thêm . Ngoài ra, S. pneumoniae Nhiễm Phế Cầu Khuẩn Streptococcus pneumoniae phế cầu là vi khuẩn gram dương, tan máu alpha, hiếu khí, xếp đôi. Ở Mỹ, nhiễm trùng phế cầu là nguyên nhân chính gây viêm tai giữa, viêm phổi, nhiễm trùng huyết... đọc thêm , H. influenzae nhóm b Nhiễm khuẩn Haemophilus Loài vi khuẩn gram âm Haemophilus gây nhiều nhiễm trùng nhẹ và nghiêm trọng, bao gồm vãng khuẩn huyết, viêm màng não, viêm phổi, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm tế bào và viêm thanh quản... đọc thêm , và, ít phổ biến hơn, Neisseria meningitidis Bệnh Meningococcal Meningococci Neisseria meningitidis là những song cầu khuẩn gram âm gây viêm màng não mủ và nhiễm trùng huyết. Các triệu chứng, thường là nặng, bao gồm đau đầu, buồn nôn, nôn, sợ ánh... đọc thêm gần như không gặp. Bệnh lậu không triệu chứng đôi khi xảy ra trong thai kỳ, do đó N. gonorrhoeae Bệnh lậu Bệnh lậu do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae gây ra. Nó thường nhiễm vào biểu mô của niệu đạo, cổ tử cung, trực tràng, hầu họng, hoặc kết mạc, gây kích ứng hoặc đau và xuất huyết rải rác... đọc thêm có thể hiếm khi là một mầm bệnh. Mặc dù xét nghiệm sàng lọc và dự phòng kháng sinh trong đẻ đối với nhóm liên cầu nhóm B đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm trùng sớm do GBS, tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm trùng muộn do GBS vẫn không thay đổi, điều này phù hợp với giả thuyết nhiễm khuẩn sơ sinh muộn thường do môi trường. Một số bệnh nhiễm trùng do virus ví dụ, herpes simplex lan tỏa Nhiễm Herpes Simplex HSV ở trẻ sơ sinh Nhiễm virus herpes simplex sơ sinh thường lây truyền trong cuộc đẻ. Dấu hiệu điển hình với tổn thương mụn phỏng vỡ mủ có thể khu trú hoặc tan tỏa các cơ quan. Chẩn đoán dựa vào nuôi cấy vi rút... đọc thêm , enterovirus Tổng quan về nhiễm Enterovirus Nhóm Enterovirus, cùng với nhóm rhinovirus xem Cảm lạnh thông thường và parechovirus ở người, là một chi của picornavirus pico, hoặc vi rút RNA nhỏ. Tất cả các enterovirus đều có... đọc thêm , adenovirus Nhiễm adenovirus Nhiễm một trong số nhiều loại adenovirus có thể không có triệu chứng hoặc gây ra các hội chứng cụ thể, bao gồm nhiễm trùng đường hô hấp nhẹ, viêm kết giác mạc, viêm dạ dày và ruột, viêm bàng... đọc thêm , vi rút hợp bào hô hấp Virus hợp bào hô hấp RSV và nhiễm Human Metapneumovirus Virus hợp bào hô hấp và nhiễm human metapneumovirus gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới theo mùa, đặc biệt ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Bệnh có thể không có triệu chứng, nhẹ hoặc nặng, bao gồm viêm... đọc thêm có thể biểu hiện như nhiễm trùng huyết khởi phát sớm hoặc khởi phát muộn. Một số yếu tố chu sinh và sinh sản của bà mẹ làm tăng nguy cơ, đặc biệt là nhiễm trùng sơ sinh sớm, như sau Mang GBS Liên cầu nhóm B Lây lan qua đường máu và qua nhau thai xảy ra khi lây truyền một số tác nhân gây bệnh do vi rút ví dụ rubella Bệnh Rubella bẩm sinh Bệnh Rubella bẩm sinh là một bệnh nhiễm virut từ người mẹ trong thời kỳ mang thai. Dấu hiệu bao gồm các dị tật bẩm sinh, có thể gây tử vong cho thai. Chẩn đoán là do huyết thanh học và cấy virus... đọc thêm , cytomegalovirus Nhiễm Cytomegalovirus CMV Bẩm sinh và Chu sinh Nhiễm Cytomegalovirus có thể xảy ra trước khi sinh hoặc chu sinh. Đây là một trong những bệnh nhiễm virus bẩm sinh thường gặp nhất. Các dấu hiệu khi sinh, nếu có, là chậm tăng trưởng trong tử... đọc thêm , động vật nguyên sinh ví dụ, Toxoplasma gondii Toxoplasmosis Bệnh Toxoplasma do nhiễm ký sinh trùng Toxoplasma gondii. Triệu chứng từ không biểu hiện đến hạch to lành tính bệnh giả tăng bạch cầu đơn nhân tới đe dọa đến mạng sống bệnh lý thần... đọc thêm và treponemal ví dụ Treponema pallidum Bệnh giang mai bẩm sinh Bệnh giang mai bẩm sinh là một nhiễm trùng đa cơ quan gây ra bởi Treponema pallidum và truyền cho thai qua nhau thai. Dấu hiệu sớm là các tổn thương da điển hình, hạch to, gan lách to... đọc thêm Một số vi khuẩn gây bệnh ví dụ, L. monocytogenes Listeriosis Listeriosis là bệnh nhiễm trùng máu, viêm màng não, viêm não, viêm da, hội chứng tuyến mắt, nhiễm trùng tử cung và trẻ sơ sinh, hoặc hiếm khi gây viêm nội tâm mạc do loài Listeria. Các... đọc thêm , Mycobacterium tuberculosis Bệnh lao TB Bệnh lao TB là bệnh nhiễm trùng do mycobacterial tiến triển mạn tính, thường có thời gian tiềm tàng sau khi có nhiễm bệnh ban đầu. Lao thường ảnh hưởng nhiều nhất đến phổi. Triệu chứng bao... đọc thêm một số trường hợp có thể lây nhiễm qua bánh rau, nhưng phần lớn là do nhiễm trùng ngược dòng từ cổ tử cung lên và do khi trẻ đi qua đường sinh dục có mang vi khuẩn của mẹ trong cuộc dù mật độ vi khuẩn mang ở bà mẹ có liên quan trực tiếp đến nguy cơ bệnh xâm lấn ở trẻ sơ sinh, nhưng nhiều bà mẹ có mật độ mang vi khuẩn thấp lại sinh ra trẻ sơ sinh có mật độ mang vi khuẩ cao, vì vậy chúng có nguy cơ cao nhiễm bệnh. Nước ối có phân su hoặc nhiều chất gây có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Streptococcus nhóm B và E. coli. Hơn nữa, một vài sinh vật trong khoang âm đạo của mẹ có thể tăng nhanh sau vỡ ỗi sớm PROM, có thể góp phần lây truyền ngược dòng. Các sinh vật nhiễm vào máu thông qua thai nhi hít hoặc nuốt nước ối bị ô nhiễm, dẫn đến nhiễm khuẩn trùng ngược dòng thể giúp giải thích nhiễm trùng cao ở trẻ sơ sinh có vỡ ối sớm, viêm phần phụ viêm ối có liên quan đến nhiễm trùng huyết sơ sinh hơn là viêm ở trung tâm bánh rau, trẻ sinh đôi nằm gần đường sinh dục của mẹ ở có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn, nhiễm vi khuẩn của nhiễm trùng sơ sinh sớm và phản ánh hệvi khuẩn của khoang âm đạo của người mẹ. Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất trong nhiễm trùng huyết sơ sinh khởi phát muộn làCác yếu tố nguy cơ khác bao gồm Sử dụng catheter nội mạch kéo dàiBệnh liên quan có thể,chỉ là một dấu hiệu cho việc sử dụng thủ tục xâm lấnSử dụng kháng sinh không phù hợp tăng vi khuẩn kháng thuốcNằm viện kéo dàiThiết bị bị ô nhiễm hoặc dung dịch tiêm truyền hoặc cho vi khuẩn Gram dương ví dụ, coagulase-negative staphylococci và Staphylococcus aureus có thể từ môi trường hoặc da của bệnh nhân. Các vi khuẩn Gram âm thường xuất phát từ hệ vi khuẩn nội sinh của bệnh nhân, có thể đã bị thay đổi do sử dụng kháng sinh trước đó hoặc do các vi khuẩn kháng thuốc chuyển từ bàn tay của nhân viên chăm sóc phương tiện lây lan chính hoặc thiết bị bị ô nhiễm. Do đó, các nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm với các vi khuẩn này ví dụ, đông người, nhân viên y tá không đầy đủ, không rửa tay, rửa tay không đúng dẫn đến tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện cao hơn. Các yếu tố nguy cơ nhiễm chủng Candida bao gồm sử dụng catheter đường tĩnh mạch trung tâm kéo dài > 10 ngày, dung dịch dưỡng tĩnh mạch, sử dụng kháng sinh phổ rộng đặc biệt là cephalosporin thế hệ thứ 3 và bệnh lý đường trùng ban đầu có thể xảy ra ở đường tiểu, viêm xoang, tai giữa, viêm phổi hoặc đường tiêu hoá, và sau đó có thể lan truyền màng não, thận, xương, khớp, phúc mạc và da. Các triệu chứng và dấu hiệu của nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh Dấu hiệu ban đầu của nhiễm khuẩn huyết sơ sinh thường không đặc hiệu, kín đáo và không phân biệt giữa các tác nhân kể cả virut. Những dấu hiệu sớm phổ biến nhất bao gồm Giảm hoạt động tự phát Bú ít Chán ănNgưng thở Nhịp tim chậmSự mất ổn định nhiệt độ hạ thân nhiệt hoặc tăng thân nhiệtSốt xuất hiện chỉ trong 10% đến 15% số trẻ sinh nhưng, khi duy trì ví dụ > 1 giờ, thường là dấu hiệu chỉ điểm nhiễm trùng. Các triệu chứng và dấu hiệu khác bao gồm suy hô hấp, các triệu chứng thần kinh ví dụ, cơn co giật, rung giật, vàng da đặc biệt xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu đời mà không có bất đồng Rh hoặc ABO với tăng nồng độ bilirubin trực tiếp, nôn, tiêu chảy, và chướng bụng. Dấu hiệu cụ thể của cơ quan bị bệnh có thể xác định vị trí ban đầu hoặc ổ di bệnh. Hầu hết trẻ sơ sinh nhiễm trùng sớm do Streptococcus nhóm B hoặc L. monocytogenes có tình trạng hô hấp đôi khi khó phân biệt được với hội chứng suy hô hấp cấp RDS.Viêm tấy đỏ, chảy dịch, chảy máu quanh rốn mà không có các bệnh lý liên quan chảy máu khác có thể là dấu hiệu gợi ý nhiễm trùng rốn nhiễm trùng gây hủy hoại của mạch rốn.Hôn mê, co giật, uốn ván, hoặc thóp phồng lên gợi ý viêm màng não, viêm não, hoặc áp xe vận động tự phát của một chi cùng với sưng, nóng, đỏ, hoặc đau trên khớp cho thấy cốt tủy viêm hay viêm khớp nhiễm chướng có thể là dấu hiệu của viêm phúc mạc hoặc viêm ruột hoại tử đặc biệt khi đi kèm với phân máu hay bạch cầu nhiều trong.Các vết loét ngoài da, loét miệng và gan lách to đặc biệt với đông máu nội quản rải rác [DIC] có thể cho thấy nguy cơ nhiễm herpes simplex toàn trùng sớm do liên cầu B GBS có thể có biểu hiện như một tình trạng viêm phổi cấp tính. Thông thường, các biến chứng sản khoa đặc biệt là trẻ non tháng, ối với kéo dài, hoặc viêm ối màng ối. Trong > 50% trẻ sơ sinh, nhiễm trùng Streptococcus nhóm B có biểu hiện trong vòng 6 giờ sinh; 45% có điểm số Apgar 3 ngày đến 12 tuần, viêm màng não thường xuất hiện. Nhiễm khuẩn với GBS muộn thường không liên quan đến các yếu tố nguy cơ chu sinh hoặc chứng tỏ mẹ có mang vi khuẩn mà đó là do tình trạng bội sau khi đẻ. Chỉ số nghi ngờ caoNuôi cấy máu, dịch não tủy CSF và đôi khi là nước tiểuChẩn đoán sớm bệnh nhiễm khuẩn huyết sơ sinh là rất quan trọng và đòi hỏi cảnh giác với các yếu tố nguy cơ đặc biệt ở trẻ sơ sinh cân nặng thấp và tiếp tục cần theo dõi nếu có bất thường trong vài tuần đầu đời. Tổng số bạch cầu và số lượng tuyệt đối của các dòng bạch cầu ở trẻ sơ sinh là yếu tố dự báo kém của nhiễm trùng huyết sớm khởi phát. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng chưa trưởng thành tổng số bạch cầu đa hạt nhân > 0,16 là có giá trị chẩn đoán, và các giá trị dưới ngưỡng này có một giá trị tiên đoán âm tính cao. Tuy nhiên, tính đặc hiệu là thấp; đến 50% trẻ sơ sinh đủ tháng có tăng tỷ lệ. Các giá trị thu được sau 6 giờ tuổi có nhiều khả năng là bất thường và có giá trị lâm sàng so với những kết quả thu được ngay sau khi sinh. Số lượng tiểu cầu có thể giảm vài giờ đến ngày khởi trước khi khởi phát nhiễm trùng trên lâm sàng nhưng thường vẫn tăng sau khi trẻ hồi phục một ngày. Sự giảm này đôi khi đi kèm với những thay đổi khác của DIC ví dụ như tăng sản phẩm giáng hóa fibrin, giảm fibrinogen, kéo dài tỷ lệ chuẩn hóa quốc tế [INR]. Với những thay đổi này, số lượng tiểu cầu thường không hữu ích trong việc đánh giá một trẻ sơ sinh nhiễm khuẩn có một lượng lớn vi khuẩn lưu thông trong máu nên đôi khi có thể được nhìn thấy vi khuẩn trong các bạch cầu hạt đa nhân bằng cách sử dụng chất nhuộm Gram, màu xanh methylene, hoặc chất tẩy crôm acridine với hệ kể kết quả của công thức máu hoặc dịch não tủy, tất cả trẻ sơ sinh có nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết bệnh nhân không ổn định, sốt hoặc hạ thân nhiệt, kháng sinh nên được chỉ định ngay sau khi nuôi cấy ví dụ như máu và hay dịch não tủy nếu có thể. Các mạch rốn có thể bị nhiễm khuẩn từ các vi khuẩn ở trên gốc rốn, đặc biệt là sau một vài giờ, do đó việc nuôi cấy máu từ catheter tĩnh mạch rốn có thể không đáng tin cậy. Do đó, cần lấy máu để nuôi cấy bằng mạch ngoại biên, tốt hơn là ở 2 vị trí. Mặc dù, việc chuẩn bị da tối ưu để thực hiện trước khi nuôi cấy máu ở trẻ sơ sinh không được xác định, bác sĩ lâm sàng có thể dùng dung dịch chứa iốt và phải để cho vùng da khô hoàn toàn sau sát khuẩn. Ngoài ra, máu được lấy ngay sau khi đặt catheter động mạch rốn cũng có thể được sử dụng cho nuôi cấy nếu cần. Máu nên được nuôi cấy cho cả vi khuẩn hiếu khí và kị khí. Tuy nhiên, lượng máu tối thiểu cho mỗi chai nuôi cấy máu là 1,0 mL; nếu 90%mẫu nuôi cấy máu vi khuẩn dương tính sẽ mọc trong vòng 48 giờ ủ mẫu Dữ liệu về nuôi cấy mao mạch không đủ để đề khuyến cáo dùng phương pháp Candida có thể mọc trên đĩa nuôi cấy máu và trên các đĩa thạch máu, nhưng nếu nghi ngờ có nấm khác thì nên sử dụng phương pháp nuôi cấy nấm. Đối với các loài nấm khác Candida, nuôi cấy máu nấm có thể cần từ 4 đến 5 ngày ủ bệnh trước khi trở nên dương tính và có thể âm tính ngay cả khi bệnh lan truyền rõ rệt. Bằng chứng về sự mang các tác nhân này trong miệng hoặc phân hoặc trên da có thể hữu ích trước khi có kết quả nuôi cấy. Trẻ sơ sinh bị nấm máu cần được thực hiện LP để xác định viêm màng não do nấm. Soi đáy mắt với đồng tử được giãn tốt để xác định có viêm thị giác do nấm Siêu âm thận cũng cần được làm để loại trừ nguy cơ nấm tại thận với hình ảnh u nấm fugal ball. Siêu âm thận cũng cần được làm để loại trừ nguy cơ nấm tại thận với hình ảnh u nấm fugal ball Xét nghiệm nước tiểu là cần thiết chỉ để đánh giá nhiễm khuẩn huyết muộn. Nên lấy nước tiểu qua đặt ống thông bàng quang hoặc chọc hút trên xương mu, không lấy mẫu qua túi nước tiểu. Mặc dù chỉ có kết quả cấy là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán, một số chỉ số như ≥ 5 bạch cầu/trường năng lượng cao hoặc thấy bất kỳ vi sinh vật nào trong một mẫu soi là bằng chứng của nhiễm trùng đường tiểu UTI. Không có bạch cầu trong nước tiểu không loại trừ nhiễm trùng đường tiểu. Nhiều xét nghiệm thường có bất thường trong nhiễm khuẩn huyết và đã được đánh giá là dấu hiệu sớm. Tuy nhiên, hầu hết độ nhạy của các xét nghiệm có xu hướng thấp cho đến khi nhiễm trùng rõ ràng sau đó trong bệnh tật, và độ đặc hiệu cũng không thật sự cao. Các chất chỉ điểm sinh học không được coi là hữu ích để xác định thời điểm bắt đầu dùng kháng sinh cho nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh vì giá trị tiên lượng dương tính kém, nhưng chúng có thể có vai trò bổ trợ trong việc xác định thời điểm có thể chấp nhận ngừng kháng sinh nếu kết quả nuôi cấy vẫn âm tính trong trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng huyết khởi phát chất phản ứng giai đoạn cấp tính là các protein được sản xuất bởi gan dưới ảnh hưởng của IL-1 khi có hiện tượng viêm. Loại có được nghiên cứu nhiều nhất trong số này là protein phản ứng C định lượng CRP. Nồng độ ≥ 1 mg/dL 9,52 nmol/L đo bằng nephelometryh - kỹ thuật miễn dịch học thường được coi là bất thường. Nồng độ cao xảy ra trong vòng 6 đến 8 giờ phát triển nhiễm trùng huyết và đạt đỉnh sau 1 ngày. Độ nhạy của định lượng protein phản ứng C cao hơn nếu đo sau 6 đến 8 giờ sau sinh. Hai giá trị bình thường thu được ở 8 giờ đến 24 giờ sau khi sinh và sau 24 giờ sau có một giá trị tiên đoán âm tính cao đến 99,7%. 1. Pontrelli G, De Crescenzo F, Buzzetti R, et al Accuracy of serum procalcitonin for the diagnosis of sepsis in neonates and children with systemic inflammatory syndrome A meta-analysis. BMC Infect Dis 171302, 2017. doi Stocker M, van Herk W, El Helou S, et al C-reactive protein, procalcitonin, and white blood count to rule out neonatal early-onset sepsis within 36 hours A secondary analysis of the neonatal procalcitonin intervention study. Clin Infect Dis 732e383–e390, 2021. doi Tỉ lệ tử vong cao gấp 2 đến 4 lần ở trẻ nhẹ cân so với trẻ đủ tháng. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn sơ sinh sớm là từ 3% đến 40% tỷ lệ nhiễm khuẩn sơ sinh sớm do GBS là 2% đến 10% và nhiễm khuẩn sơ sinh muộn là 2% đến 20% nhiễm khuẩn sơ sinh muộn do GBS vào khoảng 2%. Tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn sơ sinh sớm phụ thuộc vào nguyên nhân gây nhiễm trùng; nhiễm trùng gây ra bởi vi khuẩn gram âm hoặc chủng Candida có tỷ lệ tử vong lên đến 32 đến 36%. Ngoài ra, trẻ sơ sinh cân nặng cực thấp có nhiễm khuẩn huyết hoặc nhiễm nấm máu thường có nguy cơ rất cao tổn thương về thần kinh. Liệu pháp kháng sinhLiệu pháp hỗ trợCác biện pháp hỗ trợ chung, bao gồm hỗ trợ hô hấp và kiểm soát huyết động, được kết hợp với điều trị kháng sinh. Trong nhiễm trùng huyết khởi phát muộn, trẻ sơ sinh trước đó được nhận vào cộng đồng bị nhiễm trùng huyết khởi phát muộn cũng nên được điều trị bằng ampicillin cộng với gentamicin hoặc ampicillin cộng với cefotaxime. Nếu nghi ngờ viêm màng não do vi khuẩn gram âm, có thể dùng ampicillin, cefotaxime và aminoglycoside. Trong nhiễm trùng sơ sinh muộn do nhiễm khuẩn bệnh viện, điều trị ban đầu nên bao gồm vancomycin có hoạt tính kháng S. aureus kháng methicilin; xem bảng Liều vancomycin cho trẻ sơ sinh cộng với một aminoglycosid. Nếu nghi ngờ nhiễm P. aeruginosa chỉ định ceftaidime, cefepime, hoặc piperacillin/tazobactam có thể được sử dụng bổ sung hoặc thay cho aminoglycoside tùy thuộc vào sự nhạy cảm của vi khuẩn theo từng đơn vị. Đối với trẻ sơ sinh đã điều trị trước đó với một đợt aminoglycoside từ 7 đến 14 ngày cần được điều trị, cần xem xét một loại aminoglycosid khác hoặc cephalosporin thế hệ nghi ngờ tụ cầu không đông huyết tương coagulase-negative staphylococci ở các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như vị trí đặc catherer bị sưng kéo dài > 72 giờ hoặc được phân lập từ máu hoặc chất dịch vô trùng bình thường khác và được coi là mầm bệnh, liệu pháp ban đầu cho nhiễm trùng huyết khởi phát muộn nên bao gồm vancomycin. Tuy nhiên, nếu vi khuẩn nhạy cảm với nafcillin, cefazolin hoặc nafcillin, có thể dùng thay thế cho vancomycin. Việc loại nguồn mang bệnh như vị trí catheter bị sưng nề là cần thiết để điều trị nhiễm trùng. Ngoài ra, coagulase-negative staphylococci có thể được bảo vệ bằng một màng sinh học lớp phủ bảo vệ ngăn cách vi khuẩn với catheter.Bởi vì Candida có thể mất từ 2 đến 3 ngày để phát triển trong nuôi cấy máu, việc bắt đầu điều trị amphotericin B deoxycholate theo kinh nghiệm và loại bỏ catheter nhiễm bệnh trước khi csoo kết quả cấy mới có thể cứu sống bệnh nhân. Truyền máu đã được sử dụng cho trẻ sơ sinh nặng đặc biệt là hạ huyết áp và toan chuyển hóa. Với hiệu quả làm tăng lượng globulin tuần hoàn, làm giảm lượng endotoxin tuần hoàn, tăng mức hemoglobin với mức 2,3-diphosphoglycerate cao hơn và cải thiện tưới máu. Tuy nhiên, chưa có thử nghiệm lâm sàng có đối chứng nào được tiến tươi đông lạnhcó thể giúp cải thiện sự thiếu hụt opsonin với độc tố ruột của Ecolo ở trẻ sơ sinh cân nặng thấp, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đối chứng nào được công bố và các nguy cơ liên quan đến truyền máu phải được xem yếu tố kích thích quần thể tái tổ hợp G-CSF-yếu tố kích thích hoạt hóa bạch cầu hạt [GM-CSF]- yếu tố hoạt hóa thực bào đã làm tăng số lượng và chức năng bạch cầu trung tính ở trẻ sơ sinh có giả định làm cải thiện tình trạng nhiễm trùng nhưng thức tế chưa có hiệu quả ở mọi trẻ sơ sinh có giảm bạch cầu nặng; cần phải được nghiên cứu thêm. Tiền sử viêm ối- màng ốiTuổi thai và thời gian vỡ ốiNếu không có viêm ối - màng ối hoặc không có chỉ định điều trị dự phòng với liên cầu B, chỉ định xét nghiệm hoặc điều trị là không cần mẹ có chỉ định điều trị dự phòng Streptococcus nhóm B và đã điều trị thích hợp với penicillin, ampicillin, hoặc cefazolin tiêm tĩnh mạch trong 4 giờ trước sinh, trẻ cần được theo dõi trong bệnh viện trong 48 giờ; các xét nghiệm và điều trị chỉ được thực hiện khi các triệu chứng phát triển. Với trẻ ≥ 37 tuần tuổi thai, có người chăm sóc và theo dõi phù hợp thì có thể xuất viện sau 24 bà mẹ không được điều trị dự phòng nhóm B liên cầu một cách thích hợp, trẻ được theo dõi trong bệnh viện trong 48 giờ mặc dù có thể chưa cần điều trị bằng kháng sinh. Nếu màng ối vỡ ≥ 18 giờ trước khi sinh hoặc tuổi thai < 37 tuần, trẻ nên được chỉ định nuôi cấy máu, công thức máu bạch cầu và CRP khi sinh và/hoặc từ 6 đến 12 giờ. Các triệu chứng lâm sàng và kết quả của phòng thí nghiệm giúp hướng dẫn điều trị. Việc cung cấp globulin miễn dịch để tăng cường phản ứng miễn dịch của trẻ sơ sinh đã không được chứng minh là giúp ngăn ngừa hoặc điều trị nhiễm khuẩn huyết. Tất cả phụ nữ mang thai nên được sàng lọc để tìm vi khuẩn GBS vào cuối thai kỳ bằng cách sử dụng cả nuôi cấy dịch âm đạo và trực tràng. Phụ nữ có kết quả sàng lọc GBS dương tính nên được điều trị dự phòng kháng sinh trong chuyển dạ trừ khi có chỉ định mổ đẻ trước khi chuyển dạ và trước khi vỡ ối. Phụ nữ có kết quả sàng lọc GBS âm tính nên được chỉ định dùng kháng sinh trong chuyển dạ nếu tiền sử họ đã sinh một đứa trẻ sơ sinh bị bệnh phụ nữ không rõ tình trạng nhiễm GBS ví dụ, vì không được kiểm tra hoặc kết quả không có nên dùng kháng sinh trong chuyển dạ nếu ≥ 1 trong số các yếu tố sau < 37 tuần tuổi thai Vỡ ối kéo dài ≥ 18 giờNhiệt độ ≥ 38°CCó thể xảy ra nếu có sàng lọc GBS dương tính trong lần mang thai trước đóKháng sinh thường được sử dụng bao gồm penicillin, ampicillin hoặc cefazolin và nên cho dùng tĩnh mạch trong thời gian ≥ 4 giờ trước khi sinh. Sự lựa chọn kháng sinh nên tính đến các mô hình kháng kháng sinh của GBS ở từng nơi. 1. Brady MT, Polin RA Prevention and management of infants with suspected or proven neonatal sepsis. Pediatrics 132166-8, 2013. doi Puopolo KM, Lynfield R, Cummings JJ, et al Management of infants at risk for group B streptococcal disease. Pediatrics 1442e20191881, 2019. doi Nhiễm trùng sơ sinh có thể nhiễm khuẩn khởi phát sớm ≤ 3 ngày sinh hoặc muộn sau 3 ngày.Nhiễm trùng khởi phát sớm thường là hậu quả của nhiễm trùng mẹ con và các triệu chứng xuất hiện trong vòng 6 giờ sau khi nhiễm trùng khởi phát muộn thường có do môi trường và có nguy cơ cao ở trẻ non tháng, đặc biệt là những trẻ nhập viện kéo dài, sử dụng đường truyền tĩnh mạch. Các triệu chứng sớm thường không đặc hiệu và khó nhận biết. Sốt chỉ có 10% đến 15% số trường hợp máu, cấy dịch não tủy, với nhiễm khuẩn sơ sinh muộn cần cấy thêm nước trị sớm nhiễm khuẩn huyết ban đầu bằng ampicillin kết hợp với gentamicin và/hoặc cefotaxime nếu nghi ngờ bị viêm màng não gram âm, thu hẹp lại thành các thuốc đặc hiệu với vi khuẩn khi có kết quả trị dự phòng liên cầu nhóm B GBS trong thời kỳ sinh đẻ cho những phụ nữ có nguy cơ truyền GBS cho trẻ sơ sinh của họ.

bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh