Hoài Cổ Linh Hồn Việt Nam Đừng quên em nhé hồn tôi bơ vơ Mùa thu mây bay vương nhiều nước mắt Tình tôi mây bay vương nhiều xót xa Đừng quên em nhé đời tôi vốn buồn Đừng quên em nhé đời tôi cô đơn Người trở về không mang lời kể lể
Giải trí - Tin tức giải trí Sao Việt và Quốc tế. Cập nhật liên tục các tin tức phim điện ảnh, hậu trường, âm nhạc, scandal và đời sống showbiz nghệ sĩ chúng tôi bơ vơ' Diễn viên Võ Hoài Nam đang có hạnh phúc ngọt ngào bên vợ là nghệ sĩ múa Lan Anh.
Ðêm nay, chúng ta hoài niệm Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn mất cách đây 1 tháng 26 ngày. Tuần trước, ở bên nhà vừa làm lễ 49 ngày cho anh. Chúng ta tưởng nhớ đến anh đêm nay không phải là muộn. Trong Ðêm Hoài Niệm này sẽ có hát TCS và "nói" TCS, nói về lời ca của TCS. Hát
Sao thả hoài mà chẳng ai dính thế kiaaa. giấu nỗi đau vào trong lòng. Từng đêm anh bơ vơ… anh vẫn mơ: Yêu người trong mộng! Điều bất ngờ nhất là hóa ra tôi vẫn còn tồn tại trong trí nhớ của cậu và tôi có thể nhận ra cậu khi cậu đứng trước mặt tôi. Cảm ơn
Cũng cháy suốt mà. Hôm nay đang lãi lớn, ngày mai bay quá nửa tài khoản là điều bình thường. Không làm giàu được đâu. Tôi xác định đánh bạc vui thôi. Chứ tôi làm việc khác. Forex lên voi xuống chó như cơm bữa. #105 Phán Toàn Sai, 05/11/2021. trader 19pip, Ultimatehp, Tiền Ăn Sáng
Khi ông nội tôi mất, bà nội tôi bơ vơ một nách 3 đứa con không biết phải xoay sở ra sao. Ba tôi là con cả phải bỏ học đi làm nuôi mẹ nuôi em. Ngày Father's Day những người cha của tôi, cha của con tôi đều đã trở về cát bụi. Họ là hoài niệm trong ký ức những người
-Không biết mẹ viết cái gì mà viết hoài vậy" Có tiền bạc gì không" Phí thì giờ quá vậy" Nhiều đêm tôi đã khóc và oán hận cha mẹ mình tại sao sanh tôi ra làm chi, rồi bỏ tôi bơ vơ giữa cuộc đời. mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở
Bóng các bạn xa dần và tôi cảm thấy trong lòng mình dâng lên một cảm xúc xao xuyến lạ thường. Ngày đầu tiên đi học của tôi là như thế đó. Những kỉ niệm tuyệt vời ấy luôn đọng lại trong trí óc của tôi và cũng những kỉ niệm ấy thúc giục tôi vào việc học tốt hơn.
. CHẾ DIỄM TRÂM Phong trào Thơ Mới 1932 – 1945 là sự bứt phá ngoạn mục của thơ Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX để giã từ phạm trù văn học trung đại, gia nhập vào quỹ đạo văn học hiện đại, là tiếng nói giải phóng cái tôi cá nhân-cá thể individu, một cái tôi nội cảm, cái tôi sáng tạo xuất phát từ mối bất hoà trước thực tại trên cả hai phương diện nhân sinh và thẩm mỹ. Nói đến cái tôi cá nhân là nói đến sự cô đơn. Biểu hiện thường trực của cô đơn là nỗi buồn. Thơ Mới ngập tràn nỗi buồn. Văn học trung đại có sự điều tiết rất lớn của lý trí cái tôi cộng đồng nên nỗi buồn ít được bộc lộ trực tiếp mà ẩn hiện sau ngôn từ, nấp sau cảnh vật. Ví như nỗi buồn trong thơ Nguyễn Khuyến là nỗi buồn ẩn sau mùa thu làng cảnh Việt Nam của một nhà nho ý thức về thời đại nhưng bất lực. Nỗi buồn ấy thấm sâu trong hình ảnh, trong chữ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo Thu điếu Thơ Mới thể hiện cái buồn rất khác với văn học trung đại. Nó ngang nhiên xuất lộ Hôm nay trời nhẹ lên cao / Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn Xuân Diệu. Nó thường hằng Với tôi tất cả như vô nghĩa / Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau Chế Lan Viên. Nó dai dẳng Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn Huy Cận… Nỗi buồn chất chứa da diết trong Thơ Mới có nguyên nhân trước hết là do bản chất của nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ lãng mạn. Cơ chế văn chương lãng mạn là cái tôi cô đơn – một trạng thái cảm xúc-tinh thần không được chia sẻ và không chia sẻ được. Cô đơn là điều kiện sáng tạo, là phẩm chất nghệ sĩ, phẩm chất tài năng lớn. Một nguyên nhân khác là các nhà Thơ Mới coi cái buồn, cái đau là một phạm trù mỹ học. Cái buồn đã thấm sâu vào quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ. Huy Cận quan niệm“Cái đẹp bao giờ cũng hơi buồn”, hay như thi sĩ Hồ Dzếnh“Tình mất vui khi đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở” Ngập ngừng. Nỗi buồn Thơ Mới vừa nằm trong quan niệm lại vừa là kết quả của sự tác động ngoại cảnh. Cái tôi lý tưởng của Thơ Mới khi va đập thực tế nghiệt ngã của thời đại – xã hội thực dân phong kiến – đã mất phương hướng, mất chỗ bấu víu, đành phổ nỗi buồn vào thơ. Đâu đâu cũng bàng bạc nỗi buồn, từ thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư đến thơ Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thâm Tâm… Bởi thế, Hoài Thanh – tác giả Thi nhân Việt Nam – viết “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.” Thơ Mới là thơ của những điệu cảm xúc buồn, song có thể quy về ba dạng thức chính. Khi cái tôi đối diện với toàn cõi nhân gian cả chiều kích không gian và thời gian, cá nhân nhận ra mình chỉ là hạt cát, hạt bụi nhỏ nhoi, nhận ra tình trạng lênh đênh, phù du của phận người thì nảy ra mối sầu nhân thế – nỗi buồn phổ biến của cái tôi lãng mạn, của thơ lãng mạn Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng Huy Cận Sầu nhân thế làm nảy sinh tâm lý về sự vô nghĩa của kiếp người. Tư tưởng hư vô nảy sinh, con người thấy chẳng có gì là bền vững, không có gì là nghĩa lý cả Trời hỡi trời hôm nay ta chán hết Những sắc màu hình ảnh của trần gian Chế Lan Viên Khi cái tôi đối diện với thời cuộc môi trường sinh tồn cảm thấy bơ vơ, lạc lõng thì nảy sinh nỗi sầu thời thế, thấy mình như kẻ lạc thời, sinh bất phùng thời, “đầu thai lầm thế kỷ” hoặc thấy thời mình chưa tới hoặc thấy thời mình đi qua mất rồi Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ … Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh Vũ Hoàng Chương Cái tôi khi đối diện với bản thể chính mình có thể nảy sinh sầu thân thế, nảy sinh tâm lý thấy mình là kẻ thất bại, thậm chí sinh ra đã là kẻ thất bại, chủ yếu trên hai phương diện tình duyên lỡ làng và công danh sự nghiệp dở dang Tết này chưa chắc em về được Em gửi về đây một tấm lòng Em đi dang dở đời sương gió Chị ở vuông tròn phận lãnh cung Nguyễn Bính Thơ Mới cất tiếng đan xen ba mối sầu đồng hành và chuyển hoá nhau thành dàn giao hưởng có ba bè sầu sầu nhân thế – sầu thời thế – sầu thân thế, nổi bật là Xuân Diệu. Ở “nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới” Hoài Thanh, cảm thức về thời gian đã trở thành nỗi ám ảnh. Xuân Diệu ham sống, say sống là thế mà buồn bã, cô đơn. Từ cái buồn tưởng chừng như không duyên không cớ, cái buồn vơ vẩn Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói / Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì Thơ duyên đến cái buồn vì tình yêu đã hết Anh một mình nghe tất cả buổi chiều / Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh Tương tư, chiều và cái cô đơn, lạnh lẽo Bốn bề ánh nhạc biển pha lê / Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề / Sương bạc làm thinh, khuya nín thở / Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê Nguyệt cầm…. Cái buồn da diết, ảo não là cái buồn trong Lửa thiêng Huy Cận – man mác cả không gian, tràn lan khắp cảnh vật Sông dài, trời rộng, bến cô liêu Tràng giang, Muôn sao bàng bạc sầu nhân gian Hồn xa… Đó còn là cái buồn thiên cổ xa xăm tự ngàn xưa theo gió thổi về Một chiếc linh hồn nhỏ / Mang mang thiên cổ sầu Ê chề, Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về Chiều xưa. Hồn thơ Huy Cận bơ vơ, đơn độc Trời! Ảo não những chiều buồn Hà Nội / Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu Trò chuyện. Nỗi buồn trong thơ Hàn Mặc Tử là hành trình của cái tôi “đau thương” từ nỗi buồn chia lìa ban đầu Gió theo lối gió, mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay / Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay? Đây thôn Vĩ Dạ; càng về sau, nỗi cô đơn, buồn đau càng quằn quại, tuyệt vọng Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa / Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô / Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy / Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra Say trăng… Tác giả Nguyễn Bính nghiền ngẫm nỗi sầu bi phẫn của một cái tôi lỡ dở trong biến thiên thời cuộc. Nguyễn Bính tự nhận mình là “kiếp con chim lìa đàn”, ra đi “dan díu với kinh thành” nhưng đơn côi, thất vọng giữa phố thị Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang / Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng / Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị / Tôi đã về đây rất vội vàng Sao chẳng về đây?. Cái tôi trôi dạt ấy đành tìm về với “thời trước” trong mộng tưởng nhưng trên con đường về “chân quê” xa lắc, những thôn Đoài, thôn Đông, làng Vân, làng Đặng… cũng mờ mịt xa Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? Tương tư… Thế Lữ mang nỗi hận của chúa sơn lâm bị tù hãm “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”; Chế Lan Viên có “nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời”; Lưu Trọng Lư “lịm người trong thú đau thương”, vương nỗi buồn của tiếng thu tan ra, loang ra trong không gian; Thâm Tâm xoáy sâu vào nỗi buồn ly biệt ra đi theo tiếng gọi của khát vọng Tống biệt hành … Tất cả góp nhau tạo nên nỗi buồn Thơ Mới, nỗi buồn một thời thơ Việt. Tâm trạng buồn là nét phổ biến ở những nhà thơ lãng mạn 1932 – 1945. Đấy không chỉ là nỗi niềm riêng tư mà đấy còn là cái bệnh thời đại, nói như Xuân Diệu “Nỗi buồn đó vốn là nỗi buồn chung của con người, bọn thi sĩ chúng tôi nhẹ lòng nhẹ dạ nên lĩnh mang giùm tất cả cho nhân gian”. Cái buồn trong Thơ Mới là cái buồn đẹp, thanh khiết và tích cực vì đó là cái buồn của những tâm hồn chưa khô héo, chưa lạnh nhạt, thờ ơ, phó mặc trước cuộc đời chung. Với nỗi sầu buồn ấy, các nhà Thơ Mới gởi đến người đọc thông điệp về sự hòa nhập giữa nỗi buồn, sự cô đơn cá nhân với cuộc đời chung “Chúng tôi cũng bơ vơ, mỗi hồn người là một cõi bơ vơ trong đất trời là một khung bơ vơ; chúng ta đồng một bơ vơ với nhau, vậy thì người cũng bớt bơ vơ một chút” Xuân Diệu. CDT
Ta trở về bơ vơ Một mình bên cửa sổ, Ngồi lặng nhìn mưa rơi, Mưa giăng mờ trên phố, Lòng bỗng thấy chơi vơi. * Hàng cây ướt hết rồi, Lá vàng rơi lặng lẽ, Con đường sao vắng thế, Bóng người ấy đâu rồi. * Hạt mưa vẫn cứ rơi, Mang nỗi buồn man mát, Trái tim dù biết hát, Nhưng kiếp người phù du. * Lại thêm một mùa thu, Gợi lên bao nỗi nhớ, Đã bao lần trăn trở, Cái gì là hư vô? * Khi mọi thứ qua đi, Ân tình nào ở lại, Trong trái tim khờ dại, Để cuộc đời nên thơ. * Dù ta có ước mơ, Nhưng đời luôn khắc nghiệt, Khi cuộc tình đã chết, Ta trở về bơ vơ. - Hết - Chỉnh sửa cuối 14 Tháng bảy 2022 thơ
Một mở bài đây thôn vĩ dạ ngắn gọn, súc tích, gọi tên được vấn đề và có sức lôi cuốn không chỉ tạo tiền đề cho người viết triển khai mạch văn một cách dễ dàng mà còn tạo được ấn tượng tốt đẹp đối với người chấm. Mời bạn xem 9 mở bài được người chấm đánh giá xuất sắc dưới đây Mở bài 1. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã có một nhận định rất sâu sắc về phong trào thơ Mới như sau “Đời chúng ta nằm trong vòng một chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”. Mở bài 2. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những tuyệt phẩm mà nhà thơ Hàn Mặc Tử đã để lại cho nhân gian. Đó là những áng thơ bay bổng và ngọt ngào. Trước khi viết bài thơ thì thi sĩ đã mắc bệnh phong nhưng vẫn mang trong mình nỗi nhớ thương, đau đáu nhớ về quê hương Vĩ Dạ đó là nơi chứa biết bao nhiêu thời gian đẹp đẽ mà nhà thơ đã gắn bó ở đây. Mở bài 3. Bài thơ đây thôn Vĩ Dạ được ra đời từ một nguyên cớ rất đặc biệt. Khi Hàn Mặc Tử lâm bệnh nặng chờ đợi những giây phút đến với tử thần ở trại phong Quy Hòa, Quy Nhơn, thì nhà thơ đã bất ngờ nhận được một tấm bưu ảnh do người bạn gái là Hoàng Thị Kim Cúc gửi tặng từ thôn Vĩ Dạ. Tấm bưu ảnh ấy có phong cảnh sông nước đêm trăng, có thuyền và bến. Phía sau kèm theo mấy lời thăm hỏi để an ủi nhà thơ lúc này đang mang căn bệnh hiểm nghèo. Mở bài 4. Hàn Mặc Tử là hồn thơ đau thương nhưng là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới. Ông để lại cho văn học Việt Nam nhiều tác phẩm có giá trị như “Gái quê”, “Thơ điên”, “Chơi giữa mùa trăng”… Đặc sắc và gây xúc động nhất là bài “Đây thôn Vĩ Dạ” được trích trong tập “Thơ điên”. Bài thơ là bức tranh tuyệt đẹp về miền quê đất nước và là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người “Sao anh không về chơi thôn Vĩ ? …. Ai biết tình ai có đậm đà” Mở bài 5. Hàn Mặc Tử một nhà thơ tài hoa của văn học Việt Nam. Nhắc đến ông, chúng ta lại nhắc tới một người nghệ sĩ tài hoa, bạc mệnh. Qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”, ta càng cảm nhận rõ hơn ngòi bút sắc sảo, sự tinh tế của Hàn Mặc Tử. Mở bài 6. Khi được gọi tên cho Phong trào thơ mới, Đỗ Lai Thúy đã gọi đó là một “Cây nấm lạ trên gia hệ của văn mạch dân tộc”. Cái “lạ” của thơ mới, có người biết, có người chưa biết, nhưng cái “lạ” mà người thi sĩ Hàn Mặc Tử mang theo khi bước vào làng thơ, thì hẳn ai cũng rõ. Mở bài 7. Nhắc đến những dòng thơ này, người đọc chắc hẳn không còn lạ lẫm gì với hình ảnh “bán trăng” của Hàn Mặc Tử. Một sự nghịch lí, lạ đời vì trăng cũng là chung cũng là của riêng mọi người, hà cớ sao lại “bán”. Thế nhưng, từ hình ảnh này người ta mới thấy tấm lòng thủy chung, son sắt của nhà thơ. Và một lần nữa sự thủy chung ấy lại được tái hiện qua “Đây thôn Vĩ Dạ”. Tác phẩm không những là bức tranh thủy mặc về một vùng của cố đô Huế mà nó còn là nỗi lòng gửi tới phương xa của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Mở bài 8. Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chính là tác phẩm mà Hàn Mặc Tử đã dùng biết bao tâm huyết của mình viết lên. Bài thơ thể hiện niềm yêu thương nhung nhớ về quê hương xứ Huế nơi mà tác giả đã từng làm việc ở đây. Mở bài 9. Hàn Mặc Tử – một trái tim, một tâm hồn lãng mạn dạt dào yêu thương đã bật lên những tiếng thơ, tiếng khóc của nghệ thuật trước cuộc đời. Những phút giây xót xa và sung sướng, những phút giây mà ông đã thả hồn mình vào tronq thơ, những giây phút ông đã chắt lọc, đã thăng hoa từ nỗi đau của tâm hồn mình để viết lên những bài thơ tuyệt bút. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã được ra đời ngay trong những phút giây tuyệt diệu ấy. Ở bài thơ, cái tình mặn nồng trong sáng đã hòa quyện với thiên nhiên tươi đẹp, mối tình riêng đã ở trong mối tình chung hồn thơ vẫn đượm vẻ buồn đau. Ngoài ra, các em có thể tham khảo 9 kết bài đây thôn vĩ dạ đã được viết trước đó.
Đêm có tiếng thở dài Đêm có những ngậm ngùi, Khu phố yên nằm Đôi bàn chân mỏi Trên lối về mưa bay Đêm anh hát một mình Ru em giấc mộng lành Xin những yên bình Cho loài chim nhỏ Cao vút trời thênh thang Anh ru em ngủ Không bằng những lời buồn anh đã viết Anh ru em ngủ Này lời ru tha thiết rộn ràng Ai cho tôi một ngày yên vui Cho tôi quên cuộc đời bão nổi Để tôi còn yêu thương loài người. Đêm hiu hắt lạnh lùng Sâu thêm mắt muộn phiền Soi bóng đời mình bên giòng sông cũ Tôi với trời bơ vơ
Tôi giữa trời bơ vơ. Giao Chỉ San Jose kể chuyện tiễn đưa trung tá Lê Ngọc Tô. Tháng 3 năm 1954 tổng cộng 300 anh em chúng tôi xếp hàng ở trại Ngọc Hà, Hanoi. Đây là đám thanh niên Bắc Kỳ bị động viên được gọi đi Thủ Đức. Quân đội quốc gia mới thành lập sẽ huấn luyện cấp tốc các thiếu úy tưởng chừng sẽ đi cứu Điện Biên Phủ đang bị bao số hiện diện có một vài anh quê Nam Định. Vũ Văn Lộc, Trần Quốc Lịch, Nguyễn Thế Thứ, và Lê Ngọc Tô… Phần lớn còn trẻ chưa có nửa mối tình đầu. Chúng tôi chia tay Hà Nội trong bài ca bất hủ. Tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu. Sau khi cùng xây dựng 2 nền cộng hòa miền Nam, hai mươi mốt năm sau nước mất tan hàng tháng tư 1975. Bao nhiêu mộng đẹp tan ra thành khói bay bốn phương trời. Từ ngày đó đến nay tôi đã tiễn đưa bao nhiêu bạn cùng khóa lên đường về miền vĩnh cửu. Năm 72 trung tá Nghiêm Kế bị bắt tù binh trận Tân Cảnh. Năm 73 trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Nhã đón Nghiêm Kế trở về trên sông Thạch Hãn. Nhã nói rằng Kế ơi là Kế, sao mày khốn khổ thế này. Hai tháng sau trung tá Nhã gốc mũ đỏ về sư đoàn 1 bị pháo kích. Chúng tôi làm đám ma cho đại tá truy thăng với vòng hoa cườm Thương tiếc Nguyễn Thế Nhã anh hùng. Nghiêm Kế khóc rằng. Nhã ơi Nhã. Sao số mày khốn nạn thế này. Sau cùng Nghiêm Kế vẫn còn sống ở San Jose cho đến năm 2020. Hai năm qua, với công việc hội trưởng của khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954, tôi trở thành người chuyên lo Chung sự cho anh em. Tôi thừa biết rồi sẽ có một ngày anh em chẳng còn ai. Đưa người ta, không đưa qua chẳng còn sóng ở trong lòng… Nào ngờ ngày sau cùng đó chính là hôm qua. Ngày thứ bẩy đầu tiên của tháng 9 năm 2021. Cả khóa trong tang lễ chỉ còn lại có 2 thằng cùng quê Nam Định. Một thằng nằm. Một thằng đứng. Trung tá Lê Ngọc Tô sinh năm 1934 đội mũ đỏ nằm trong quan tài. Tuy đã già những nét mặt bình yên. Con người của chiến tranh, của tù đầy, của cô đơn. Nhân hậu và dễ thương với chiến hữu và đơn vị nhưng xa cách và gia trưởng với vợ con. Phần tôi vẫn là thằng đứng đó giữa tang gia và bạn bè của gia đình. Rất đông các thanh niên nam nữ bạn bè của con cháu người ra đi. Tất cả mặc quần áo đen lịch sự và giữ yên lặng. Hầu hết đều không biết người chết là ai. Ông già này từ đâu đến và hơn 80 năm qua ông đã làm công việc gì. Tang gia có 3 cô con gái nhưng không giới thiệu ai là vợ. Dù không biết nhưng cũng không ai thắc mắc. Các cô thương yêu biết rõ về thân phụ nhưng không cháu nào biết rõ về ông trung tá nhảy dù. Lại càng không biết về ông chỉ huy đơn vị cảnh sát dã chiến. Mười hai chiến binh nhảy dù xếp hàng nghiêm chỉnh làm lễ phủ cờ cho người anh hùng mũ đỏ nhưng không ai biết về những thành tích của ông thời đệ nhất cộng hòa. Đại diện hội cảnh sát và hội Võ bị lên chia buồn cùng tang quyến nhưng cũng không có dịp biết về công việc của vị trung tá cảnh sát thời đệ nhị cộng hòa. Tôi sinh năm 1933 hơn bạn Tô một tuổi cùng quê Nam Định vì duyên nợ quân trường nên biết nhau qua 21 năm binh nghiệp. Nhưng quả thực không biết rõ về gia cảnh, về chuyện ngục tù, chuyện HO và đời sống nơi đất khách quê người. Gặp nhau 1 lần họp khóa ở Việt Nam rồi lại gặp nhau khi bạn HO mới qua Mỹ. Đã gần 30 năm qua Lê Ngọc Tô mới trở lại San Jose, tôi nhớ thủa từ Nam Định lên trại Ngọc Hà Hà Nội. Mười năm sau họp khóa ở Việt Nam rồi lại gặp nhau khi bạn HO mới qua Mỹ. Đã gần 30 năm qua Lê Ngọc Tô mới trở lại San Jose. Ngày xưa tuổi trẻ rực rỡ như sao mai, bây giờ một thằng nằm và một thằng đứng. Tôi với trời bơ vơ biết nói gì với người yêu cũ của bạn và đám con cùng với tuổi trẻ m ặc áo đen đưa đám người anh hùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Khóa chúng tôi ở miền Bắc này có 10 bà quả phụ và 8 vị anh hùng. Chỉ duy có con gái Đinh Trọng Ất chở mẹ ghé qua. Tất cả quý ông bà còn lại đều không đi được hoặc con cái không có ngày giờ thuận tiện. Hội trưởng về chiều tuyên bố các bạn cứ kêu Taxi hay Hu Bơ hội ta sẽ trả tiền. Các bạn tôi cho biết chưa từng gọi Hu Bơ và dù có kêu cũng rất cần có y tá hộ tống. Vì những lý do rất dễ thương như vậy nên tôi không bàn nữa mà xin kể qua câu chuyện riêng về bạn Lê Tô như sau. Năm 1954 khi ra trường Tô về nhẩy dù và trải qua các đơn vị tác chiến cho đến khi lên đại úy và làm tiểu đoàn phó. Sau thời gian dài làm sĩ quan mũ đỏ, đẹp trai hào hoa phong nhã anh lập gia đình với giai nhân Cẩm Dung qua mối tình Chú Cháu như tiểu thuyết của Chu Tử. Cô vợ trẻ hơn chồng trên 10 tuổi đã sinh hạ cho chàng một trai và 3 21 năm chiến tranh anh sinh viên sỹ quan của khoá Cương Quyết Đà Lạt đã 4 lần lãnh chiến thương bội tinh. Đã từng làm quận trưởng cảnh sát quận 6 và chỉ huy sảnh sát dã chiến. Lần bị thương và thoát chết lịch sử là bị không quân Mỹ bắn nhầm trong Chợ Lớn năm Mậu Thân 1968. Giai đoạn tiếp theo là trang sử thi của gia đình và đất nước. Trung tá Tô đi tù tập trung 13 năm và người vợ tiểu thư gánh vác toàn vẹn việc nuôi con và nuôi chồng trong tù. Đến khi được tự do và gia đình HO qua Mỹ thì ông trung tá nhảy dù vốn là người của chiến tranh nên không thích hợp với cuộc sống bình yên tại Mỹ. Lê Ngọc Tô quyết định xa gia đình, tìm cuộc sống cô đơn và biệt lập ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ. Cô Cẩm Dung trở thành bà mẹ quán xuyến một mình xây dựng cuộc sống nuôi đàn con trưởng thành như phép lạ. Những đứa con gái hiếu thảo vẫn liên lạc với thân phụ và sau cùng vào những ngày tháng sau cùng đưa ông Tô về San Jose để trông nom trong giờ phút cuối. Phút lâm chung. Chuyện gia đình kể rằng vào ngày sắp ra đi ông Tô đã rất yếu. Những người con gái và bà mẹ ngồi quanh giường bệnh. Con gái thì vẫn là những đứa con gái thương yêu của bố. Nhưng người thiếu phụ bây giờ không phải là vợ, cũng chẳng phải là người yêu dấu bé bỏng ngày xưa. Bà ngồi đó tiếp tay cho con gái soa bóp cho ông Tô. Kỷ niệm nào còn lại hơn 10 năm làm vợ. Gần 13 năm nuôi tù. Rồi những năm chuẩn bị HO. Sau cùng là 30 năm xa cách ngay tại xứ Mỹ. Con gái nói. Bố có biết ai đang soa bóp không. Tay mẹ đấy. Trên khuôn mặt già nua hiu hắt qua ánh mắt chợt như nở một nụ cười. Tiếng con trẻ lại kêu vang. Bố cười rồi mẹ ơi. Trung tá Lê ngọc Tô thực sự đã mỉm cưới trước khi ra đi về miền vĩnh cửu. Con người mãi mãi thuộc về chiến tranh. Một thứ gia trưởng trong gia đình. Không biết bày tỏ tình yêu thương vợ con. Ở Việt Nam làm ông lớn đã đành. Đi tù về không chịu đạp cyclo. Qua Mỹ không chịu quét nhà. Vợ nấu cơm tháng nhưng chồng không chịu lái xe. Thời vàng sơn không chịu giao tiền cho vợ. Vào giờ phút cuối cùng anh Tô giao phong bì có chút tiền dành dụm bảo con đưa cho vợ. Cẩm Dung vừa khóc vừa nói. Ngày xưa anh không đưa tiền cho em vung vít. Bây giờ lâm chung anh đưa tiền cho người vợ cũ làm gì. Nhưng cô Dung ơi. Đó không phải là tiền. Đó chính là tình yêu. Người anh hùng của cuộc chiến tranh tan hàng gẫy súng. Ông Tô đứng về phe thua cuộc. Ở Việt Nam ông không chịu đạp Cyclo. Đi Mỹ ông không chịu quét nhà và đưa cơm tháng. Ông khước từ đoàn tụ ngay trên đất Mỹ. Tô phải tìm đường đi xa vì ông mãi mãi là gia trưởng của nhà Lê. Ông là con cháu vua Lê Đại Hành, Lê Ngọc Tô không chịu lao động trước mặt vợ con. Anh đành đoạn để vợ con lao động tự do. Trước phút lâm chung bạn Tô của tôi đưa cho vợ phong bì với chút tiền dành dụm từ 30 năm xa cách. Đó chính là thông điệp của người gia trưởng. Vẫn còn tiền và trách nhiệm đùm bọc vợ con . Tiền đó chính là tình yêu. Tình yêu của chú Tô gửi cho cháu Dung. Sau cùng cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn lại mối tình Chú Cháu. Tôi đứng dưới trời bơ vơ mà giải được một cuộc tình. Ước mong tìm được cái vòng hoa Cườm ngày xưa tôi đặt làm cho đại tá Nguyễn Thế Nhã với hàng chữ Tiếc Thương Nguyễn Thế Nhã anh hùng. Nếu phải ông còn đủ quyền hành như thời xưa. Trung tá Lê Ngọc Tô sẽ ra đi với cấp bậc đại tá truy thăng. Bây giờ tôi với bạn chỉ còn là một thằng đứng và một thằng nằm dưới trời bơ vơ. Chờ đến lượt mà thôi. Xin cảm ơn anh em Mũ đỏ phủ cờ. Hội Võ bị và hội Cảnh sát đến chia buồn. Cảm ơn thiệt tình.— Tiểu sử Trung tá nhảy dù Lê ngọc Tô Trung tá Tô một thời được coi như anh hùng của binh chủng Mũ đỏ. 11 lần tuyên dương công trạng với 16 huy chương gồm đệ tứ bảo quốc với ngành dương liễu và 4 chiến thương bội tinh. Từ trung úy năm 1954 lên trung tá năm 1968. Chỉ huy các đơn vị nhảy dù cấp trung đội lên đại đội và tiểu đoàn. Với vóc dáng cao lớn ông được tuyển chọn làm sĩ quan liên lạc hội nghị Colombo. Được đặc cách qua chỉ huy biệt đoàn cảnh sát dã chiến. Trưởng ty cảnh sát quận 6 kiêm đặc khu trưởng khu 6 thuộc đô thành Sài Gòn. Đơn vị sau cùng ông là phối trị viên cho nghị hội Liên hợp quân sự 2 bên. Trung tá Tô cũng đã trải qua 12 năm 8 tháng 3 ngày tù tập trung từ trong Nam ra ngoài Bắc. Cùng gia đình định cư tại Bắc CA cuối năm 1991— Giao Chi San Jose. giaochi12 408 316 8393
tôi bơ vơ hoài trở về