Quản trị công ty trong doanh nghiệp nhà nước là một thách thức lớn ở nhiều nền kinh tế. Cho tới nay chưa có một chuẩn mực quốc tế nào giúp các Chính Phủ đánh giá và cải thiện cách thức thực hiện quyền sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước, mặc dù các doanh nghiệp này thường giữ vai trò quan trọng trong nền Dưới đây là 8 phần mềm quản trị ERP cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, được phát triển bởi doanh nghiệp Việt, mang lại hiệu quả cao và được nhiều doanh nghiệp tin dùng trong thời gian qua. 1. Phần mềm ERP quản lý doanh nghiệp Cloudify 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu nhất gồm : - Bà Thái Hương, Nhà sáng lập, Chủ tịch Hội đồng chiến lược Tập đoàn TH. - Bà Nguyễn Thị Nga, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn BRG - BRG GROUP. - Ông Lê Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) - Ông Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp PROFIT500 trong nửa đầu năm 2021. Xuất hiện trong Top 10 Bảng xếp hạng PROFIT500 năm nay có sự điểm mặt của nhiều ngân hàng lớn, điều này cho thấy lợi nhuận ngân hàng đã có sự tăng trưởng mạnh trong thời gian vừa qua. Cuối tháng 7/ 76 doanh nghiệp Việt Nam giao thương trực tuyến với 58 nhà cung cấp Hàn Quốc. Ngày 22-3, Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc tại Hà Nội (KOTRA Hanoi) đã hỗ trợ thành công kết nối giao thương trực tuyến giữa 58 nhà cung cấp Hàn Quốc uy tín đến từ các tỉnh, thành phố: Incheon, Jeonju, Daegu, Gyeongbuk với Phân tích Quản trị nhân sự trong các Doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay HUMAN RESOURCE MANAGEMENT IN ENTERPRISES IN VIETNAM TODAY Nội dung bài làm: I. II. Sự cần thiết và nhu cầu của nguồn nhân lực Đánh giá thực trạng và yêu cầu nguồn nhân lực của các DN Việt Nam III. Phương pháp tạo nguồn nhân lực IV. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực V. VI. VII. Tại các nước phát triển, hầu hết các doanh nghiệp trước khi đi vào hoạt động hoặc sau một thời gian đều tiến hành IPO. Tuy nhiên, ở Việt Nam, công việc này vẫn chưa thực sự phổ biến và mới chỉ được biết đến trong một vài năm trở lại đây. Dẫu vậy, khi cảm nhận được thế mạnh của IPO, các công ty Việt đã tiến hành quá trình này khá nhanh và mạnh mẽ. Điều này khẳng định sức mạnh thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm 2022. Petrovietnam tiếp tục dẫn đầu Top 500 Doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất Việt Nam Petrovietnam về đích trước 3 chỉ tiêu quan trọng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phải giữ vai trò chủ lực trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia PV Petrovietnam giá trị thương hiệu . Đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng trên khắp toàn cầu, đã tác động mạnh mẽ và làm suy thoái nền kinh tế thế giới. Không ngoại lệ, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều tổn thất nặng nề trên nhiều phương diện, nhất là khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết phân tích tác động của dịch bệnh Covid-19 và thực trạng quản trị tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Mục tiêu và nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp Hệ thống tài chính trong doanh nghiệp được ví như hệ thống tuần hoàn máu trong cơ thể nuôi tất cả các bộ phận. Tài chính có thể dưới dạng tiền, vật tư, nguyên liệu, tài sản phát sinh lúc hình thành nguồn vốn hoặc trong quá trình hoạt động như các khoản thu, phải trả. Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Quản trị tài chính cũng được hiểu là việc tổng hợp và nghiên cứu các mối quan hệ tài chính có thể phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nghĩa là, quản trị tài chính liên quan đến quản trị dòng vốn của doanh nghiệp, bao gồm các tài sản, các nguồn vốn hiện có, các kênh huy động vốn, quản trị tiền mặt và các mối quan hệ tài chính phát sinh như khoản phải thu, khoản phải trả, hàng tồn kho… Trên cơ sở đó, quản trị tài chính đề cập đến việc lên kế hoạch, xây dựng chiến lược tài chính, tổ chức và thực hiện chỉ đạo, kiểm soát các hoạt động về tài chính của doanh nghiệp. Trên góc độ tạo ra giá trị, quản trị tài chính hướng đến mục tiêu gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp và làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được xem xét và cụ thể hoá bằng các chỉ tiêu sau - Tối đa hoá chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế, tuy nhiên, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế chưa hẳn gia tăng được giá trị cho cổ đông. Trong nhiều trường hợp, lợi nhuận vẫn gia tăng nhưng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phần phát hành tăng, do đó, chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận cần được bổ sung bằng chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận trên vốn cổ phần. - Tối đa hoá lợi nhuận trên cổ phần EPS Chỉ tiêu này được xem xét bổ sung những hạn chế của chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế, song chỉ tiêu này vẫn còn có những hạn chế nhất định, cụ thể 1 Tối đa hoá EPS không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và độ dài của lợi nhuận kỳ vọng; 2 Tối đa hoá EPS cũng chưa xem xét đến yếu tố rủi ro; 3 Tối đa hoá EPS không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trường. - Tối đa hoá thị giá cổ phiếu và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp được xem như là mục tiêu thích hợp nhất mà các nhà quản trị tài chính đều hướng đến, vì mục tiêu này quan tâm đến các yếu tố như giá trị thời gian của tiền, rủi ro tài chính trong ngắn hạn và dài hạn, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Theo đó, quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu sau i Quản trị tài sản cố định TSCĐ bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình. Trong đó, có nội dung quản trị hiện vật, quản trị giá trị, tính và phân bổ khấu hao TSCĐ, sửa chữa, nâng cấp và thanh lý TSCĐ. ii Quản trị tài sản lưu động TSLĐ và vốn lưu động Bao gồm việc nghiên cứu khả năng chuyển đổi của TSLĐ, cơ cấu và phân loại TSLĐ, quản trị hàng hóa tồn kho, lập và sử dụng quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, cách thức tổ chức chu chuyển vốn lưu động, khả năng phân tích vòng quay và hiệu quả sử dụng vốn lưu động. iii Quản trị vốn bằng tiền bao gồm việc lập kế hoạch tiền mặt tiền VNĐ và ngoại tệ, kế hoạch vay, trả nợ, việc tổ chức quản lý và kiểm soát quỹ tiền mặt tại hội sở chính và các chi nhánh, tổ chức việc giao dịch, kết nối ngân hàng trong và ngoài nước, chế độ đảm bảo an toàn tiền khi giao dịch, nhất là giao dịch điện tử. iv Quản trị tín dụng thương mại và quá trình tham gia thị trường tài chính bao gồm các phương thức bán hàng, thu tiền, sử dụng các công cụ tín dụng thương mại, chính sách vay nợ và thu nợ, vấn đề bao thanh toán và mua bán thương mại, việc sử dụng và quản trị các công cụ tài chính. v Quản trị nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm quản trị các nguồn vốn tự có, nguồn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại, nguồn cổ phiếu và trái phiếu công ty, nguồn từ lợi nhuận dùng để tái đầu tư. vi Quản trị quyết định đầu tư, phân tích tính chi phí đầu tư là cách thức tính toán toàn diện tiềm lực vốn, khả năng đầu tư, nhất là đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn. vii Quản trị rủi ro tài chính kinh doanh, nhận diện và xử lý các rủi ro tiềm tàng trong sản xuất, kinh doanh, nhằm giảm thiểu thiệt hại và tài trợ rủi ro. viii Phân tích tài chính là công cụ hữu hiệu trong giải pháp quản trị tài chính. Việc phân tích, giúp nhà quản trị nhìn nhận đúng thực trạng tài chính, những yếu tố tích cực và tiêu cực, thông qua những tính toán và phân tích khoa học, nhằm nhận diện nguyên nhân và tìm các giải pháp phát huy ưu điểm, hạn chế sai lầm, để công tác tài chính được đảm bảo độ an toàn, sự phát triển liên tục và bền vững. ix Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ, gia tăng cảnh báo và ngăn chặn rủi ro, giảm thiểu tác hại của rủi ro, hướng công tác tài chính đạt mục tiêu hiệu quả và sự tăng trưởng bền vững. x Tăng cường phân cấp quyền và trách nhiệm, đề cao trách nhiệm vật chất, sử dụng có hiệu quả đòn bẩy kinh tế. Duy trì, bồi bổ động lực lành mạnh song song với việc gia tăng thẩm quyền, trách nhiệm cho từng bộ phận, từng thành viên, tạo sự đồng thuận trong quản trị tài chính và nâng cao hiệu năng quản trị của toàn bộ hệ thống. Tác động của dịch bệnh Covid-19 đến doanh nghiệp Việt Nam Khởi nguồn từ Vũ Hán Trung Quốc vào cuối năm 2019, đến nay, đại dịch Covid-19 đã bùng phát ở 215 quốc gia. Mỗi ngày, thế giới có hàng trăm nghìn ca mắc mới, hàng nghìn người tử vong và con số này chưa có dấu hiệu chững lại, thậm chí lây lan nhanh tại một số quốc gia sau khi nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội. Đại dịch Covid-19 đã tác động toàn diện và sâu rộng, khiến nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái. Không ngoại lệ, Việt Nam - một quốc gia đang phát triển cũng bị tác động và tổn thất nặng nề trên nhiều phương diện, nhất là khu vực doanh nghiệp. Khảo sát gần doanh nghiệp trên toàn quốc, "Báo cáo tác động của dịch bệnh Covid-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam Một số phát hiện chính từ điều tra doanh nghiệp 2020" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI phối hợp với Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam WB thực hiện đã đưa ra những góc nhìn cụ thể về ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 tới toàn nền kinh tế và những cách thức ứng phó của doanh nghiệp Việt Nam. Theo Báo cáo, đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong đó, 87,2% doanh nghiệp cho biết, chịu ảnh hưởng ở mức “phần lớn” hoặc “hoàn toàn tiêu cực”. Chỉ 11% doanh nghiệp cho rằng, họ “không bị ảnh hưởng gì” và gần 2% ghi nhận tác động “hoàn toàn tích cực” hoặc “phần lớn tích cực”. Cả khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đều bị ảnh hưởng nặng nề. Trong số các nhóm doanh nghiệp, đối tượng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn cả là các doanh nghiệp mới hoạt động dưới 3 năm và các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ, nhỏ. Tỷ lệ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực có xu hướng giảm khi số năm hoạt động của doanh nghiệp gia tăng. Song vẫn có tới 84% doanh nghiệp tư nhân và 85% doanh nghiệp FDI có trên 20 năm hoạt động chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 ở mức phần lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực. Mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 đối với các doanh nghiệp FDI lớn nhất ở nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, với 89,3% cho biết chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn hoặc hoàn toàn tiêu cực. Doanh nghiệp FDI ở quy mô lớn là nhóm chịu ảnh hưởng tiêu cực lớn thứ 2, với con số 88%. Tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực của nhóm quy mô vừa và quy mô siêu nhỏ thấp hơn một chút, lần lượt ở mức 87,3% và 87,2%. Nhóm doanh nghiệp tư nhân quy mô siêu nhỏ có tỷ lệ cho biết chịu ảnh hưởng ở mức phần lớn, hoàn toàn tiêu cực là cao nhất, với con số 87,7%. Các nhóm doanh nghiệp còn lại có tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực thấp hơn, ở mức 86,1%. Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê cho thấy, đại dịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Làn sóng phá sản doanh nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ, con số doanh nghiệp Việt Nam giải thể, tạm ngừng hoạt động đạt mức kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây Hình 1. Theo Hình 1, số doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn dừng hoạt trong năm 2018-2019 đã được ghi nhận ở mức khá cao gần 90 nghìn doanh nghiệp; năm 2020 con số này đã vượt trên 100 nghìn doanh nghiệp. So sánh với những năm đầu thập kỷ, số doanh nghiệp giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động trong năm 2020 101,7 nghìn doanh nghiệp cao gần gấp đôi so với năm 2013 60,737 nghìn doanh nghiệp. Theo điều tra của VCCI và WB, lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi đại dịch Covid-19 là may mặc 97%, thông tin truyền thông 96%, sản xuất thiết bị điện 94%, sản xuất xe có động cơ 93%… Kết quả khảo sát doanh nghiệp FDI tại Việt Nam cũng ghi nhận 87,9% chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh, 11,4% không ảnh hưởng gì, chỉ có 0,8% vẫn kinh doanh tốt. Doanh nghiệp FDI trong một số ngành có tỷ lệ chịu ảnh hưởng tiêu cực cao, bao gồm bất động sản 100%, thông tin truyền thông 97%, nông nghiệp/thuỷ sản 95%. 22% doanh nghiệp FDI cho biết phải sa thải lao động do tình hình kinh doanh suy giảm. Số lao động buộc phải nghỉ việc xấp xỉ 30% tổng số lao động làm việc tại doanh nghiệp. Điều tra của VCCI và WB cũng ghi nhận, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tới việc tiếp cận khách hàng, tiếp đến là bị ảnh hưởng về dòng tiền và nhân công của doanh nghiệp. Chuỗi cung ứng của nhiều doanh nghiệp đã bị gián đoạn. Một số doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng tới các vấn đề khác, từ giảm đơn hàng, giảm sản lượng, phải trì hoãn, giãn tiến độ đầu tư thậm chí huỷ dự án đang hoặc sẽ thực hiện. Các doanh nghiệp cũng bị phát sinh thêm chi phí phòng ngừa dịch bệnh Covid-19. Không ít doanh nghiệp gặp khó khăn do chuyên gia nước ngoài không thể sang Việt Nam làm việc. Nhiều doanh nghiệp bị gián đoạn, ngưng trệ hoạt động, thậm chí dừng hoạt động do tình hình dịch và đứng trước bờ vực phá sản bởi thị trường giảm cầu đột ngột, dẫn tới giảm doanh thu cũng như vấp phải những rủi ro về thu hồi nợ, mất khả năng thanh toán… Khảo sát của Tổng cục Thống kê trong năm 2020 cho thấy, vấn để lớn nhất mà các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải đó là khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước. Có tới 53,6% doanh nghiệp khi được hỏi trả lời rằng, hàng hóa của họ bị cạnh tranh rất gắt gao ngay tại thị trường nội địa. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, hàng hóa của các nước trên thế giới vào Việt Nam dễ dàng hơn. Chính vì vậy, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh rất khốc liệt ngay trong thị trường nội địa. Bên cạnh đó, nhu cầu thấp về hàng hóa trong nước cũng là một trở ngại lớn của doanh nghiệp. 49,8% doanh nghiệp cho rằng, nhu cầu thị trường trong nước thấp so với khả năng sản xuất hàng hóa của họ. Có nhiều nguyên nhân mà các doanh nghiệp cho là trở ngại, mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn; 33,4% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 27,6% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 25,6% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 25,3% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 24,7% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 20,7% số doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 19,9% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu cao; chỉ có 6,9% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay. Thống kê của WB trong năm 2020 cũng cho thấy, có gần 30% doanh nghiệp Việt Nam áp dụng giải pháp cắt giảm lao động; trên 21% doanh nghiệp cho lao động nghỉ không lương và gần 19% doanh nghiệp giảm lương lao động. Bên cạnh việc giảm số lượng lao động, nhiều doanh nghiệp lại sử dụng biện pháp giảm giờ làm với gần 25% số lượng doanh nghiệp cắt giảm giờ làm việc. Số giờ làm việc trung bình của tất cả các doanh nghiệp tại Việt Nam trong tháng 9-10/2020, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2019. Tình hình quản trị tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Về tình hình sản xuất kinh doanh chung Theo Hình 2, sự tăng giảm của các chỉ số đã cho thấy thực tế của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2013-2020. Hình 2 cho thấy, thời gian đầu khi đại dịch bùng phát, hầu hết các doanh nghiệp đều gặp phải cú sốc lớn, không kịp trở tay, tổng doanh thu và lượng đặt hàng mới giảm mạnh, tổng doanh thu giảm 71% và tổng đơn đặt hàng mới giảm 76%. Trong suốt quý I/2020 và quý II/2020, tất cả các chỉ số đều gần như “chạm đáy”. Tuy nhiên, quý II/2020 và quý IV/2020, các chỉ số thành phần có sự phục hồi dần và hầu hết chuyển từ các mức giảm thành tăng vào cuối năm 2020. Kết quả này là một sự nỗ lực mạnh mẽ của các doanh nghiệp, khi tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến ngày càng phức tạp. Về quản trị dòng tiền của doanh nghiệp Dòng tiền được coi như là dòng máu nuôi sống doanh nghiệp, do vậy quản trị dòng tiền là một trong những nội dung vô cùng quan trọng trong quản trị tài chính của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải doanh nghiệp Việt Nam nào cũng chú trọng vào quản lý dòng tiền mà chỉ tập trung vào chăm chút chỉ tiêu lợi nhuận. Một trong những trường hợp phổ biến ở các doanh nghiệp Việt Nam đó là các doanh nghiệp tăng trưởng rất nhanh nhưng lợi nhuận lại vượt xa số tiền mặt thực tế nhận được. Loại tình huống này làm cho các doanh nghiệp dễ bị cạn kiệt về tiền mặt. Theo điều tra của VCCI, trong quý I/2020, có tới 60% số doanh nghiệp thuộc nhóm khảo sát rơi vào tình trạng thiếu vốn, đứt dòng tiền và 40% doanh nghiệp thì rơi vào tình trạng thiếu nguồn cung nguyên liệu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 lan nhanh và ngày càng diễn biến phức tạp đã khiến cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị gián đoạn. Dòng tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ không có trong khi các nhu cầu thanh toán chi phí hoạt động, chi phí lãi vay vẫn liên tục phát sinh. Như vậy, cùng với việc các doanh nghiệp không xây dựng kế hoạch quản trị dòng tiền và quy trình quản lý tài chính nội bộ từ trước sẽ khiến cho việc kiểm soát dòng tiền của doanh nghiệp đã lỏng lẻo nay còn gặp nhiều khó khăn hơn. Về khả năng tiếp cận nguồn tài trợ Khi thiếu hụt tiền mặt, các doanh nghiệp sẽ tìm đến kênh huy động vốn trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng gặp không ít trở ngại khi tiếp cận kênh huy động này. Trong báo cáo tổng hợp vào đầu tháng 5/2020 của Ngân hàng Nhà nước, tín dụng của toàn ngành Ngân hàng tăng 1,2% tuy nhiên khu vực doanh nghiệp lại giảm 0,8%. Điều này cho thấy, các doanh nghiệp thiếu hụt lớn về nguồn vốn. Mặc dù, Chính phủ đã tung ra nhiều gói cho vay hỗ trợ doanh nghiệp và các doanh nghiệp cũng có nhu cầu lớn tiếp cận nguồn tài trợ, nhưng cung và cầu về vốn vẫn chưa gặp nhau. Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp bị thiếu tài sản đảm bảo. Theo khảo sát của VCCI, hiện có tới 90% các doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu tài sản đảm bảo nên khi rơi vào khó khăn lại càng khó tiếp cận nguồn vốn. Một nguyên nhân nữa khiến cho việc tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp khó khăn là các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu minh bạch về thông tin. Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp thiếu sự đồng nhất, không được kiểm toán và độ tin cậy không cao. Các doanh nghiệp cũng không có nhiều kinh nghiệm trong việc lập báo cáo kinh doanh, quản trị dòng tiền. Điều này khiến việc thu thập thông tin về các doanh nghiệp rất khó khăn và tốn kém. Vì lẽ đó, các tổ chức tài chính khó có thể cho doanh nghiệp vay, bởi những rủi ro tín dụng mà họ có thể gặp phải. Ngoài kênh tiếp cận nguồn tài trợ thông qua các tổ chức tín dụng, trong năm 2020, kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp có bước ngoặt phát triển đáng kể. Bộ Tài chính và Chính phủ đã có nhiều nỗ lực đổi mới, hoàn thiện khung khổ chính sách, từng bước được điều hành cân bằng hơn với thị trường tín dụng ngân hàng, giúp giảm áp lực huy động vốn từ kênh tín dụng. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển toàn phù hợp với chủ trương, định hướng phát triển thị trường tài chính và thị trường vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của khu vực tư nhân với vai trò là tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Theo số liệu của Hiệp hội trái phiếu, tính đến hết tháng 11/2020, đã có đợt đăng ký phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, trong đó có đợt phát hành thành công với tổng giá trị phát hành thành công đạt 348,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 68,5% tổng giá trị đăng ký. Quy mô thị trường năm 2020 đạt xấp xỉ 13% GDP cả nước. Về công tác quản trị hàng tồn kho Công tác quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp cũng gặp nhiều thách thức do bị thiếu hụt nghiêm trọng nguồn cung ứng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất. Rất nhiều ngành sản xuất trong nước bị phụ thuộc nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, trong khi vận chuyển hàng hóa từ thị trường này gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh. Ví dụ như ngành Dệt may, Trung Quốc đóng vai trò cung cấp nguồn đầu vào rất lớn, chiếm tới 60% giá trị vải, hơn 55% giá trị xơ sợi và khoảng 45% giá trị phụ liệu. Hay như ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng bị gián đoạn sản xuất, do phần lớn các phụ tùng linh kiện sản xuất ô tô của các doanh nghiệp này cũng đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc – hai địa điểm bùng phát dịch bệnh Covid-19 mạnh mẽ nhất khu vực châu Á. Về trình độ của Ban lãnh đạo doanh nghiệp nói chung và Giám đốc tài chính doanh nghiệp nói riêng Tại Việt Nam, cơ cấu doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ chiếm tuyệt đại đa số lên tới 95-96% với một đặc thù là thiếu tính cạnh tranh, thiếu liên kết, lệ thuộc nhiều vào các chính sách ban hành của Nhà nước, thiếu tinh thần đổi mới sáng tạo. Chiến lược hoạt động của nhóm doanh nghiệp này gần như không có, hoặc rất ngắn hạn, động cơ chộp giật do vậy các doanh nghiệp này rất khó trưởng thành. Có thể dễ dàng nhận thấy, với quy mô hoạt động nhỏ, hầu hết các doanh nghiệp đều đang hoạt động với một mô hình quản trị kém bài bản, các bộ phận quản trị trong doanh nghiệp không có sự tách biệt rõ ràng, không chuyên môn hóa và đúng chức năng, dẫn đến từng khâu trong doanh nghiệp đều không được làm tốt. Bộ phận quản lý của doanh nghiệp thường do một vai Tổng giám đốc thực hiện toàn bộ dẫn đến thiếu tính chuyên nghiệp. Tại các doanh nghiệp siêu nhỏ, công tác quản trị chủ yếu mang tính tự phát, không có tính hệ thống, không được đào tạo chính quy, không phân chia chuyên môn cho các bộ phận chức năng, chủ yếu mang nặng yếu tố “kinh nghiệm”. Với một tổ chức, khi bộ phận đứng đầu chưa thực sự làm tốt, thì việc cả hệ thống dễ dàng bị phá hỏng là điều khó tránh khỏi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự yếu và kém của các doanh nghiệp của Việt Nam. Khảo sát số liệu do VCCI được thực hiện trong năm 2010 và năm 2020 thấy rằng, một số hạn chế cố hữu của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp trong 10 năm qua vẫn chưa được cải thiện nhiều, nhất là việc thiếu sự hợp tác/liên kết trong kinh doanh và thiếu chiến lược, thiếu tầm xa, bài bản trong kinh doanh. Đây là những hạn chế khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó có cơ hội để vươn lên và tham gia sâu vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, trong kết quả khảo sát của VCCI cho thấy, sự chuyên nghiệp của đội ngũ lãnh đạo đã được cải thiện vượt bậc, hạn chế này chỉ còn được xếp thứ 11 năm 2020 trong số các hạn chế chính thay vì xếp thứ hạng 1 năm 2010. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính doanh nghiệp trước bối cảnh mới Định hướng và phản ứng của Chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với bối cảnh mới Trước những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp đang phải đối diện, Chính phủ Việt Nam đã kịp thời triển khai hàng loạt các biện pháp hỗ trợ nhằm giúp các doanh nghiệp có thể trụ vững và phục hồi phát triển sản xuất, kinh doanh. Các chính sách của Chính phủ đã tạo cơ sở, nền tảng để các doanh nghiệp áp dụng và đưa ra các giải pháp tài chính phù hợp. Cụ thể Về chính sách thuế Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2020/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện quy định tại Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm tài chính 2020. Theo đó, thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 được giảm 30% đối với những trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không vượt quá 200 tỷ đồng. Bên cạnh đó, trên cơ sở đề xuất của Bộ Tài chính, Nghị định số 41/2020/NĐ-CP quy định gia hạn thời gian nộp các khoản thuế như sau Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất cho các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đại dịch Covid-19 với thời gian gia hạn lên tới 5 tháng. Đến đầu năm 2021, khi tình hình dịch bệnh ở Việt Nam và trên toàn thế giới vẫn còn diễn biến phức tạp, Bộ Tài chính tiếp tục đề xuất gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất để hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Riêng với các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô-tô trong nước, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 109/2020/NĐ-CP để gia hạn thuế tiêu thụ đặc biệt với các sản phẩm ô tô này trong các kỳ tính thuế từ tháng 3-10 năm 2020. Không chỉ dừng lại ở đó, Bộ Tài chính tích cực phối hợp cùng các ngành để rà soát và cắt giảm một loạt các khoản phí và lệ phí cho các doanh nghiệp như Phí môn bài trong năm đầu tiên đối với các doanh nghiệp thành lập mới; Phí cấp sửa đổi, bổ sung giấy phép hoạt động bưu chính và giảm 67% mức phí công bố thông tin doanh nghiệp. Về chính sách tín dụng Xác định tín dụng sẽ là chiếc phao cứu sinh của doanh nghiệp trong thời kỳ khó khăn này, Ngân hàng Nhà nước đã tăng cường chỉ đạo và thực hiện các chính sách hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp. Nổi bật như Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/03/2020 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, qua đó hỗ trợ các khách hàng tiếp tục vay vốn mới phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Thông tư này cũng định hướng các tổ chức tín dụng miễn giảm lãi và phí cho các khoản vay. Để tạo cơ sở cho các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động cân đối khả năng tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý, bảo đảm an toàn tài chính; Tiết giảm chi phí hoạt động để tập trung nguồn lực giảm mạnh lãi suất cho vay đối với dư nợ hiện hữu và các khoản cho vay mới, hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng. Cụ thể, giảm 0,85%-1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng; Giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn Việt Nam đồng đối với các lĩnh vực ưu tiên. Việc nhanh chóng đưa ra các chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với đại dịch Covid-19 đã thu được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên những kỳ vọng mà các nhà hoạch định chính sách đặt ra chưa nhiều. Dù gói giảm thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế và giảm tiền thuê đất ước tính có thể mang lại lợi ích cho gần doanh nghiệp trên khắp cả nước, nhưng thực tế cơ quan thuế hiện nay mới chỉ tiếp nhận khoảng 113,8 nghìn giấy đề nghị gia hạn thuế và tiền thuê đất của doanh nghiệp, chiếm 15% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động của nền kinh tế. Số tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn là 47,56 nghìn tỷ đồng, bằng 26,4% gói chính sách tài khoá. Gói tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19 lần 1 với giá trị ước tính hơn 250 nghìn tỷ đồng, nhưng với điều kiện hỗ trợ còn phức tạp, thiếu khả thi và chưa sát thực tế với khu vực doanh nghiệp, nên chỉ có khoảng 20% số doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu của gói hỗ trợ này. Thực tế này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, cũng như bản thân các doanh nghiệp cần ngồi lại xem xét và tìm được con đường để các gói hỗ trợ và doanh nghiệp có thể gặp được nhau. Về chính sách phát hành trái phiếu doanh nghiệp Sự phục hồi của các doanh nghiệp Việt Nam nửa cuối năm 2020 dẫn đến nhu cầu về vốn tăng theo. Khi việc tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu từ ngân hàng thương mại còn gặp nhiều vướng mắc, thì các doanh nghiệp Việt Nam tìm đến kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của thị trường đã bộc lộ những rủi ro tiềm ẩn của thị trường, đe dọa sự phát triển chung của nền kinh tế. Sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân không có khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp một cách đầy đủ và hạn chế về năng lực đánh giá rủi ro của doanh nghiệp phát hành. Sự vi phạm của doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu với giá trị giao dịch gấp nhiều lần so với vốn chủ sở hữu, liên tục huy động thông qua chia nhỏ thành nhiều đợt phát hành và tăng mức lãi suất để thu hút nhà đầu tư cá nhân nhỏ, lẻ. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ ngày 1/9/2020, góp phần nâng cao các điều kiện phát hành, siết chặt các quy định về quản lý rủi ro. Sau khi Nghị định số 81/2020/NĐ-CP có hiệu lực, tổng lượng phát hành đã giảm sút mạnh trong tháng 10 và liên tục giảm trong các tháng sau đó. Trong tháng 11/2020, trái phiếu doanh nghiệp phát hành chỉ đạt tỷ đồng, tiếp tục giảm 4% so với tháng 10 và giảm mạnh 64% so với cùng kỳ năm 2019. Sự sụt giảm này là phản ứng chính sách hợp lý để thị trường điều chỉnh theo hướng phát triển bền vững hơn. Vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp Từ thực tế trên, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp và định hướng cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp như sau Thứ nhất, chú trọng vào công tác lập ngân sách và dự báo nhằm quản trị dòng tiền một cách bài bản Mỗi doanh nghiệp cần xác định một kịch bản tài chính phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Các doanh nghiệp nên lập kế hoạch tài chính định kỳ, bao gồm dự đoán thu - chi hàng tháng của doanh nghiệp; Dự báo các dòng tiền vào - dòng tiền ra khỏi doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp lên kế hoạch gọi vốn cho các trường hợp thiếu hụt dòng tiền. Điều này giúp cho doanh nghiệp thực sự an toàn trong những khoảng thời gian kinh doanh không ổn định; đồng thời, nó cũng tạo cơ hội để doanh nghiệp tận dụng các khoản đầu tư chiến lược hoặc thực hiện cắt giảm chi phí. Thứ hai, tích cực kết nối với các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại Hệ thống các tổ chức tín dụng, ngân hàng cần sự phối hợp chủ động từ phía doanh nghiệp để liên kết và tích hợp các giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp thuận tiện hơn trong việc triển khai thương mại điện tử bằng cách tích hợp ví điện tử, chữ ký số và các công cụ thanh toán thay cho các phương thức truyền thống. Vừa giảm thiểu thanh toán tiền mặt, vừa minh bạch hoá các dòng tiền thu chi của doanh nghiệp. Đây cũng là cách để tự động đánh giá giá trị doanh nghiệp theo thời gian thực, giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán về huy động vốn. Bên cạnh đó, việc kết nối thường xuyên với các tổ chức tín dụng cũng giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được những chương trình tín dụng ưu đãi và tận dụng chúng để mở rộng kênh huy động vốn của doanh nghiệp. Thứ ba, ổn định chuỗi cung ứng và duy trì lượng hàng tồn kho hiệu quả Các doanh nghiệp cần căn cứ vào các mô hình dự trữ hàng tồn kho để xác định lượng hàng tồn kho tối ưu, điểm tái đặt hàng mới và thời gian đặt hàng do chuỗi cung ứng tại các khu vực có thể bị đứt gẫy do ảnh hưởng của dịch bệnh. Bên cạnh đó, nhà quản trị tài chính cần phải lưu tâm trong việc kết nối thông tin cũng như giữ mối quan hệ với các nhà cung cấp. Bởi vì, rất có thể, khi xảy ra dịch bệnh, nhu cầu tích trữ tăng đột biến. Sau đại dịch Covid-19, hoạt động sản xuất được phục hồi, khi đó việc ổn định chuỗi cung ứng là rất quan trọng và là cơ sở để ổn định trong trung hạn và dài hạn. Thêm vào đó, với tình hình đại dịch còn diễn biến phức tạp, chưa thể chấm dứt ngaycác doanh nghiệp cần tích cực tìm kiếm các nhà cung cấp thay thế bên cạnh những nhà cung cấp truyền thống để nguồn cung nguyên vật liệu luôn được liên tục, không bị đứt gãy. Thứ tư, các doanh nghiệp cần chủ động ứng dụng nền tảng số vào hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong hoạt động quản trị tài chính Các phần mềm hiện nay sẽ giúp doanh nghiệp có thể tối đa hóa công tác quản lý các hoạt động chủ chốt như kế toán, phân tích tài chính, quản lý mua hàng, quản lý hàng tồn kho… Dựa vào nền tảng này, nhà điều hành có thể nhìn thấy được bức tranh tài chính tổng quan của doanh nghiệp thông qua dữ liệu thực tế, từ đó đưa ra những quyết định chính xác hơn để gia tăng hiệu quả kinh doanh, giảm chi phí thời gian, nhân lực, vật lực, tăng doanh thu… Thực tế cho thấy, hiện nay đã có rất nhiều các nền tảng số về quản lý doanh nghiệp được ứng dụng khá thành công tại các tập đoàn lớn như phần mềm ERP được sử dụng tại Công ty bia Carlsberg; Công ty Bánh kẹo Kinh Đô, Công ty May 10…, hay nền tảng MISA AMIS được sử dụng tại Dược phẩm Nhất Nhất, nhà hàng Trống Đồng Palace, Nhựa Thiếu niên Tiền Phong…. Những ứng dụng này nên được tiếp tục nhân rộng lên ở các doanh nghiệp khác. Thứ năm, thiết lập trong doanh nghiệp một nhóm phản ứng dịch bệnh Covid-19 đa chức năng Thông thường, khi dịch bệnh bùng phát, Chính phủ thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, hầu hết các nhân viên đều phải rời khỏi vị trí làm việc của họ và dành một thời gian không nhỏ để phản ứng với virus. Do vậy, nhóm phản ứng đa chức năng, dưới sự lãnh đạo chung của CEO và CFO, sẽ tiến hành thực hiện các bước phản ứng tổng thể gồm i Nhanh chóng kiểm tra và xây dựng kế hoạch tài chính dự phòng; ii Theo dõi các thông tin về đơn vị cung ứng nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ; iii Kiểm tra hàng tồn kho và xem xét cú sốc nhu cầu trước đại dịch; iv Kiểm soát chặt chẽ khoản phải thu trong quá khứ và dự kiến trong ngắn hạn của doanh nghiệp; v Phối hợp và liên lạc với các bên liên quan như ngân hàng, đối tác, công ty bảo hiểm… nhằm giảm thiểu các thay đổi ảnh hưởng đến sự ổn định của doanh nghiệp. Thứ sáu, xây dựng các kịch bản ứng phó với rủi ro Các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch hoạt động chung của doanh nghiệp mô phỏng các kịch bản với các mức độ phản ứng khác nhau. Trên cơ sở đó, các tìm ra các phương pháp nhất quán để thực hiện các kế hoạch đã được có sẵn, ví dụ như đơn vị cung ứng dòng tiền, đầu tư máy móc thích hợp… Thứ bảy, bám sát và cập nhật các chính sách mới của Chính phủ Việc bám sát chính sách giúp doanh nghiệp tận dụng được các ưu đãi mà Nhà nước dành cho doanh nghiệp, tạo lợi thế và giảm sốc các khó khăn đến cùng lúc. Trên cơ sở các giải pháp về quản trị tài chính được đưa ra, doanh nghiệp cần đồng thời đảm bảo thực hiện những điều kiện sau để việc thực thi các giải pháp hiệu quả hơn như i Bảo vệ nhân viên của doanh nghiệp Lý do thoạt đầu có vẻ mơ hồ, xong có thể nói, đại dịch Covid-19 đã đặt ra nhiều thách thức cảm xúc với rất nhiều người, thay đổi cuộc sống cũng như các nhiệm vụ công việc của người lao động theo một cách mà trước đây chưa từng có tiền lệ. Việc doanh nghiệp bảo vệ được nhân viên của mình trong khủng hoảng được cho là một “nguyên tắc bảo thủ” khởi đầu cho điểm kích hoạt trong việc thay đổi các chính sách tài chính quan trọng sau này. Các doanh nghiệp của Việt Nam cần cung cấp quyền tự chủ cho nhân viên và quyền tự chủ này giúp họ ứng phó với các tình huống linh hoạt của doanh nghiệp. Quyền tự chủ này kết hợp với các kế hoạch ứng phó đã được phân tích sẽ tạo thành hiệu ứng hai chiều cung cấp một không gian hoàn hảo trong việc hướng người lao động sát cánh cùng doanh nghiệp vượt qua khó khăn. ii Luôn bên cạnh khách hàng Các doanh nghiệp cần tập trung vào tập khách hàng cốt lõi, bởi doanh nghiệp khó có thể xoay chuyển nhanh chóng, cho nên không có gì tuyệt vời hơn là tập trung vào tập khách hàng cốt lõi và doanh nghiệp có cơ sở dự đoán được sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng và sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Kết luận Có thể nói, thời gian qua là thách thức và khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam. Đằng sau rủi ro của dịch bệnh Covid-19 gây ra cũng là thời cơ để doanh nghiệp Việt Nam nắm bắt cơ hội, tận dụng để thiết lập lại hệ thông quản trị tài chính, tìm hiểu đúng xu hướng của người tiêu dùng, từ đó có những sách lược đối phó và phục hồi sản xuất kinh doanh hiệu quả và phát triển bền vững. Tài liệu tham khảo 1. Bộ Chính trị 2020, Kết luận số 77-KL/TW ngày 5/6/2020 về chủ trương khắc phục tác động của đại dịch Covid-19 để phục hồi và phát triển nền kinh tế đất nước; 2. Chính phủ 2020, Nghị định số 114/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội về giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2020 đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác; 3. Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV/2020; 4. Ban nghiên cứu và Phát triển kinh tế tư nhân 2020, Báo cáo tác động của bùng phát dịch bệh Covid -19 lần 2 đối với doanh nghiệp và Tổng hợp các kiến nghị chính sách doanh nghiệp, hiệp hội gửi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ngày 4/9/2020; 5. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam 2020, Báo cáo Khảo sát sức khỏe doanh nghiệp Việt Nam Quý II/2020 và tác động của giai đoạn 2 dịch bệnh Covid-19 đến doanh nghiệp và người lao động; 6. Nguyễn Quang Thuấn 2020, Tác động của đại dịch Covid-19 và một số giải pháp chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn tới, Tạp chí Cộng sản, số tháng 9/2020; 7. Phạm Thị Tường Vân 2021, Chính sách tài chính hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với đại dịch Covid-19, Tạp chí Tài chính, tháng 1/2021. * Bài đăng trên Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 5/2021 TCTC Online – Quản trị công ty Corporate Governance là một chuỗi các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, hội đồng quản trị HĐQT, cổ đông và các bên liên quan tạo thành một khuôn khổ hướng dẫn quản lý và kiểm soát. kiểm soát tốt, thúc đẩy gia tăng giá trị của công ty… góp phần tăng trưởng đầu tư và phát triển bền vững. Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa cổ phần hóa và sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian gần đây bộc lộ nhiều vấn đề liên quan đến quản trị doanh nghiệp…Quản trị công ty là cơ chế và quá trình tác động đến các cổ đông về hoạt động của toàn công ty nhằm đảm bảo lợi ích của họ và xã hội. Nói rộng hơn, quản trị doanh nghiệp phát triển để bảo vệ lợi ích của các bên liên quan bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan chính đặc điểm và cơ cấu, quản trị công ty được coi là cơ chế thúc đẩy sự công bằng, minh bạch và tin tưởng, quy định cụ thể việc phân phối quyền và trách nhiệm của Hội đồng quản trị, nhà quản lý, cổ đông và các bên liên quan khác. trong đó phác thảo chính sách và quá trình ra quyết định về các vấn đề của công ty để đặt mục tiêu, làm thế nào để đạt được các mục tiêu này, kiểm soát hiệu suất và khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn khảo thêm Thủ tục thành lập công tyMục lục1 Nguyên tắc quản trị công ty của OECD2 Quyền của cổ Đối xử bình đẳng đối với cổ đông Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong Công bố thông tin và tính minh Trách nhiệm của Từ góc độ nội bộ của công ty, Điều lệ và Quy chế hoạt động là cơ sở để xử lý các vấn đề liên quan đến quản trị công ty. Như vậy, về mặt hình thức, Việt Nam đã có khung quản trị doanh Bảng 1 Tổng hợp kết quả đánh giá khuôn khổ QTCT của Việt Mặc dù khung quản trị doanh nghiệp đã được xây dựng và hoàn thiện theo hướng tích cực; Tuy nhiên, qua phân tích cụ thể trên, có thể thấy mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thực hành của OECD tại Việt Nam chưa cao, chỉ với 56/104 tiêu chí tương ứng với 53,8%. Trong khi đó, mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thực hành của OECD về Trách nhiệm hội đồng quản trị thấp nhất trong số 5 lĩnh vực với số lượng tiêu chí chỉ đáp ứng 13/38 tiêu chí chứ không phải 25/38 tiêu chí. tiêu chí tương ứng 65,8%. Một số định hướng, đề Về bảo vệ quyền lợi cổ đông và các bên liên – Thông tin chi tiết về chính sách cổ tức bao gồm tỷ lệ cổ tức, mức thanh toán, phương thức và thời hạn thanh * Một quy định khác liên quan đến việc bảo vệ quyền của cổ đông cần sửa đổi là quy định về nội dung Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông Quy định này nhằm hạn chế các trường hợp khiếu nại và ý kiến của cổ đông thiểu số bị bỏ qua hoặc bỏ qua bởi các cổ đông lớn lạm dụng lợi thế chi phối của * Nên hạn chế và tiến tới loại bỏ cổ phần ưu đãi có quyền biểu quyết trong cơ cấu cổ phần của công ty, đảm bảo sự bình đẳng giữa các cổ * Nghiên cứu và xây dựng bộ quy tắc ứng xử về đối xử với các bên liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đối tượng này Về công bố và minh bạch thông * Cần bổ sung yêu cầu Báo cáo thường niên phải trình bày rõ hơn về rủi ro kinh doanh và những biến động lớn để hỗ trợ nhà đầu tư định giá đúng cổ phiếu của công ty, chứ không chỉ dừng lại ở việc phân tích các tỷ lệ tài chính hiện Về trách nhiệm của * Nghiên cứu bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động của Kiểm soát nội bộ giúp ngăn ngừa và phát hiện sớm các khiếm khuyết trong quản trị công ty để có giải pháp khắc phục kịp thời và không tốn 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD lần đầu tiên công bố các nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp với mục đích hỗ trợ các chính phủ “cải thiện khung pháp lý, thể chế và quy định cho nền tảng quản trị doanh nghiệp”. Những nguyên tắc này không ràng buộc, mà chỉ cung cấp định hướng và tinh thần để xây dựng một hệ thống quản trị doanh nghiệp tốt. Đây là bộ nguyên tắc quốc tế đầu tiên về quản trị doanh nghiệp đã được các chính phủ chấp nhận và thông qua rộng 2002, OECD đã xem xét và xem xét bộ nguyên tắc năm 1999 và ban hành một bộ nguyên tắc cập nhật và bổ sung mới phát hành vào tháng 5 năm 2004, sau đây gọi là Nguyên tắc OECD 2004; bao gồm các lĩnh vực sau Đảm bảo cơ sở cho một khung quản trị doanh nghiệp hiệu quả; Quyền của cổ đông và chức năng sở hữu chính; Đối xử bình đẳng với cổ đông; Vai trò của các bên liên quan trong quản trị doanh nghiệp; Công khai, minh bạch; Trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã sử dụng các nguyên tắc này như một tiêu chuẩn để thiết lập một khuôn khổ quản trị doanh của cổ đôngTheo OECD, các nguyên tắc bao quát về quyền cổ đông là “Khung quản trị doanh nghiệp phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền cổ đông”. Chính sách của nguyên tắc này bao gồm tất cả các vấn đề để chấp nhận các quyền cơ bản của cổ đông bao gồm quyền ảnh hưởng đến công ty, quyền cập nhật thông tin, quyền bán hoặc chuyển nhượng cổ phần và quyền tham gia vào lợi nhuận hoặc thu nhập của công ty quyền kinh tế. Quyền của cổ đông tập trung vào các quyền cơ bản như đề cử, bầu cử, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, sửa đổi quy định, điều lệ công ty… Và tùy thuộc vào các loại cổ phiếu khác nhau, họ sẽ có các quyền khác nhau. .Đối xử bình đẳng đối với cổ đông “Khung quản trị công ty phải đảm bảo đối xử bình đẳng cho tất cả các cổ đông, bao gồm cả cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài. Mỗi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại một cách hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm”. Mục đích của nguyên tắc này là bảo vệ tính toàn vẹn của thị trường vốn bằng cách bảo vệ các cổ đông không kiểm soát khỏi sự lạm dụng, chẳng hạn như chi tiêu xa hoa của hội đồng quản trị, quản lý và cổ đông có quyền kiểm soát quyết định. Các nhà đầu tư CĐ tin rằng lợi ích của họ, nếu không bị lạm dụng, sẽ làm giảm rủi ro đầu tư, giảm chi phí vốn và từ đó tăng giá trị tài khảo thêm Thủ tục thành lập doanh nghiệpVai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong QTCTKhung quản trị doanh nghiệp cần công nhận quyền của các bên liên quan theo quy định của pháp luật hoặc các thỏa thuận song phương và khuyến khích các công ty tích cực hợp tác trong việc tạo tài sản, việc làm và ổn định tài chính. chính cho công ty. Khái niệm về các bên liên quan đề cập đến các nhà cung cấp tài nguyên cho công ty bao gồm nhân viên, chủ nợ và nhà cung quan hệ giữa các nhà cung cấp này được điều chỉnh một phần bởi hệ thống pháp luật, nhưng Các nguyên tắc của OECD cũng nhận ra rằng mối quan hệ thường là hợp đồng lợi ích được bảo vệ dựa trên hợp đồng. tiền xu cá nhân. Do đó, OECD khuyến nghị khung quản trị doanh nghiệp nhận ra rằng khi các bên liên quan được hưởng lợi, công ty cũng sẽ được hưởng lợi và các bên liên quan sẽ đóng góp vào sự thành công lâu dài của công thống thể chế bảo vệ nhà đầu tư và chủ nợ bao gồm nhiều nội dung, như luật công ty, luật chứng khoán, luật phá sản, luật mua bán sáp nhập, luật cạnh tranh, luật kế toán và chuẩn mực kế toán, cũng như các quy định và yêu cầu công bố thông tin từ thị trường chứng khoán. Một hệ thống pháp luật bảo vệ các cổ đông và chủ nợ không chỉ quan trọng trong việc ngăn chặn các nhà quản lý hoặc kiểm soát các cổ đông chiếm đoạt tài sản, mà còn giúp đa dạng hóa cơ cấu sở hữu, phát triển thị trường vốn và phân bổ đầu tư hiệu bố thông tin và tính minh bạchKhung quản trị công ty phải đảm bảo công bố kịp thời và chính xác các sự kiện liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, hiệu suất, quyền sở hữu và quản trị công ty. Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là một môi trường phức tạp đòi hỏi thông tin phải được tiết lộ đầy đủ. Người sử dụng thông tin cũng cần được đảm bảo về độ tin cậy của thông tin. Cơ chế công bố thông tin tốt là cơ sở để thu hút vốn và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Ngược lại, một cơ chế tiết lộ không hiệu quả và không dịch vụ có thể dẫn đến các vi phạm đạo đức có hậu quả tiêu cực cho công ty, cổ đông và nền kinh khảo thêm Dịch vụ thành lập công ty giá rẻTrách nhiệm của HĐQTKhung quản trị công ty phải đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát hiệu quả quản trị của hội đồng quản trị và trách nhiệm của hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất vì trách nhiệm thực hiện quản trị công ty trước hết thuộc về Hội đồng quản trị. Nguyên tắc này nhấn mạnh hội đồng quản trị cần làm việc vì lợi ích tối cao của cổ đông, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông cũng như những người có liên quan, trách nhiệm công bố thông tin và minh đề quản trị công ty ở Việt NamTrong những năm gần đây, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách trong lĩnh vực pháp lý. Do đó, các quy định về quản trị doanh nghiệp đã có những bước tiến quan trọng. Hiện nay, Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Chứng khoán 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành là hai cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc áp dụng các thông lệ quốc tế về quản trị doanh nghiệp cụ thể là Nguyên tắc OECD 2004 chỉ áp dụng hạn chế đối với các công ty niêm yết, và ở một mức độ nào đó, các công ty đại góc độ nội bộ của công ty, Điều lệ và Quy chế hoạt động là cơ sở để xử lý các vấn đề liên quan đến quản trị công ty. Như vậy, về mặt hình thức, Việt Nam đã có khung quản trị doanh tháng 10 năm 2006, MPDF đã công bố một báo cáo nghiên cứu thăm dò về quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Nghiên cứu đã thực hiện một cuộc khảo sát để khảo sát 85 doanh nghiệp lớn với các loại pháp lý và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Nghiên cứu đã cung cấp những phát hiện ban đầu của cuộc khảo sát và khuyến nghị cho Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp. Cũng trong năm 2006, Ngân hàng Thế giới cũng đã công bố Báo cáo về tuân thủ các tiêu chuẩn và nguyên tắc ROSC về quản trị doanh nghiệp Việt Nam, rà soát khung pháp lý cũng như thực tiễn và tuân thủ của các công ty niêm thời đánh giá khung quản trị doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận. Năm 2008, Ban Nghiên cứu VNR – Công ty báo cáo và đánh giá Việt Nam đã khảo sát các vấn đề về CG cho các công ty cổ phần trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, đề xuất một số vấn đề về cơ cấu, số lượng và thành phần của Hội đồng quản trị; Ban kiểm soát…Theo Báo cáo Doing Business năm 2010 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số “bảo vệ nhà đầu tư” của Việt Nam được đánh giá thấp nhất trong số các chỉ số được đánh giá, nằm trong nhóm 15 quốc gia đứng cuối bảng xếp hạng năm 2010 đứng thứ 172/183, năm 2009 xếp hạng 171/181. Chỉ số này xem xét ba khía cạnh bao gồm tính minh bạch trong giao dịch, trách nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị và khả năng của các cổ đông để kiện các nhà quản lý vì hành vi sai trái. Việt Nam chỉ đạt 2,7/10 điểm cho chỉ số này điểm trung bình của khu vực châu Á – Thái Bình Dương là 5,3/10 và các nước OECD là 5,8/10; trong đó chỉ số trách nhiệm của thành viên HĐQT thuộc hàng thấp nhất thế giới 0/10, quyền khiếu nại và minh bạch của cổ đông thấp 2/10 và 6/10.Bảng 1 Tổng hợp kết quả đánh giá khuôn khổ QTCT của Việt NamLĩnh vựcĐáp ứng tiêu chuẩn thực hành của OECDThấp hơn tiêu chuẩn thực hành của OECDTổng cộng Số lượng tiêu chí% đáp ứngSố lượng tiêu chí% không đáp ứng 1. Quyền của cổ đông0945,0%1155,0%202. Đối xử công bằng với cổ đông0770,0%0330,0%103. Vai trò của các bên liên quan0250,0%0250,0%044. Công bố, minh bạch thông tin2578,1%0721,9%325. Trách nhiệm của HĐQT1334,2%2565,8%38Tổng cộng5653,8%4846,2%104Mặc dù khung quản trị doanh nghiệp đã được xây dựng và hoàn thiện theo hướng tích cực; Tuy nhiên, qua phân tích cụ thể trên, có thể thấy mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thực hành của OECD tại Việt Nam chưa cao, chỉ với 56/104 tiêu chí tương ứng với 53,8%.Lĩnh vực Quyền cổ đông có tỷ lệ phản hồi thấp với 11/20 tiêu chí không đáp ứng tiêu chuẩn thực tiễn của OECD, trong khi đối xử công bằng với cổ đông chỉ có 3/10 tiêu chí không đáp việc bổ sung các quy định về công bố thông tin tại Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010, Bộ Tài chính đã cập nhật đầy đủ các quy định theo chuẩn mực quản trị công ty của OECD về tính minh bạch. minh bạch, công bố thông tin. Do đó, hầu hết các nội dung về nguyên tắc công bố thông tin và minh bạch tại Việt Nam đã đáp ứng các tiêu chuẩn thực tiễn của OECD, đạt tỷ lệ 78,1% 25/32 tiêu chí; chưa đạt 07 tiêu chí, tỷ lệ 29,1%.Trong khi đó, mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thực hành của OECD về Trách nhiệm hội đồng quản trị thấp nhất trong số 5 lĩnh vực với số lượng tiêu chí chỉ đáp ứng 13/38 tiêu chí chứ không phải 25/38 tiêu chí. tiêu chí tương ứng 65,8%.Nhìn chung, so với các tiêu chuẩn thực hành quản trị doanh nghiệp quốc tế được thiết lập – với các tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở Nguyên tắc OECD năm 2004, bộ nguyên tắc quốc tế về quản trị doanh nghiệp được chính phủ các quốc gia khác nhau chấp nhận và phê duyệt. rộng rãi – có thể kết luận rằng khung quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam tương đối đáp ứng các tiêu chuẩn quốc khảo thêm Thủ tục thành lập công ty TNHHMột số định hướng, đề xuấtKể từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm cải cách khung pháp lý về thực tiễn quản trị doanh nghiệp với việc ban hành nhiều văn bản, quy định mới để đảm bảo phù hợp với thực tiễn và tiêu chuẩn. được quốc tế công thể đánh giá rằng ở một mức độ nhất định, các cơ sở pháp lý này tương đối đủ để vận hành một khung quản trị công ty tốt trên cơ sở bảo vệ lợi ích của các cổ đông bên ngoài công ty đặc biệt là các cổ đông. thiểu số và đảm bảo vai trò của các bên liên quan. Tuy nhiên, từ kết quả của nghiên cứu này, có một số vấn đề cần được xem xét để bổ sung và hoàn thiện những điều sauVề bảo vệ quyền lợi cổ đông và các bên liên quanHoàn thiện các quy định liên quan đến công bố quyền của cổ đông, đặc biệt là chất lượng thông báo mời họp Đại hội đồng cổ đông ĐHĐCĐ. Để tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông thực hiện quyền hợp pháp của mình tại cuộc họp, cần có quy định rõ ràng và chi tiết hơn về thông tin được tiết lộ. Chi tiết các tài liệu được chuẩn bị và gửi cho cổ đông kèm theo thông báo mời họp phải bao gồm– Danh sách thành viên đương nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, danh sách ứng viên được đề cử vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát có đầy đủ thông tin về lý lịch, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, cổ phần sở hữu.– Đề xuất danh sách đơn vị kiểm toán độc lập trên 1 đơn vị có tên công ty, tổng quan về kinh nghiệm, năng lực tài chính và phí dịch vụ nếu có, trong đó có trường hợp ủy quyền cho Hội đồng quản trị lựa chọn.– Thông tin chi tiết về chính sách cổ tức bao gồm tỷ lệ cổ tức, mức thanh toán, phương thức và thời hạn thanh toán.– Nội dung, mục tiêu, lý do của từng vấn đề, cùng với ý kiến, kiến nghị của các thành viên Hội đồng quản trị về các vấn đề cần thảo luận, biểu quyết tại phiên kéo dài thời hạn thông báo trước về việc tổ chức Đại hội đồng cổ đông và thời hạn gửi, tiết lộ thông tin liên quan về các vấn đề cần thảo luận và biểu quyết tại đại hội để các cổ đông, đặc biệt là cổ đông cần được gia hạn. nhà đầu tư nước ngoài có đủ thời gian để xem xét và chuẩn bị quy định hiện hành lần lượt là 15 ngày và 7 ngày.* Một quy định khác liên quan đến việc bảo vệ quyền của cổ đông cần sửa đổi là quy định về nội dung Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông– Biên bản phải trình bày rõ ràng, chi tiết các vấn đề chất vấn, ý kiến, kiến nghị của cổ đông kèm theo biên bản chất vấn và trả lời chất vấn. Các câu hỏi và đề xuất phải được chủ tọa xem xét và trả lời một cách cẩn thận và hợp lý. Quy định này nhằm hạn chế các trường hợp khiếu nại và ý kiến của cổ đông thiểu số bị bỏ qua hoặc bỏ qua bởi các cổ đông lớn lạm dụng lợi thế chi phối của họ.– Danh sách thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát tham dự Đại hội đồng cổ đông phải được thể hiện đầy đủ trong biên bản cuộc họp. Tham dự đầy đủ các cuộc họp là một hành động thể hiện trách nhiệm và cam kết của các thành viên hội đồng quản trị đối với các cổ đông đã tin tưởng và trao quyền cho họ quản lý và giám sát hoạt động của công ra, cần có yêu cầu các chức danh tổng giám đốc tổng giám đốc, trưởng Ban kiểm soát và các thành viên phụ trách các tiểu ban chức năng của Hội đồng quản trị nếu có phải tham dự Đại hội đồng cổ đông để thực hiện nghĩa vụ báo cáo và trình cổ đông.* Thẩm quyền quyết định phương án phân phối lợi nhuận từ hoạt động của công ty cần được giao cho Đại hội đồng cổ đông, tạo điều kiện cho cổ đông thực hiện đầy đủ quyền tài sản của mình.* Nên hạn chế và tiến tới loại bỏ cổ phần ưu đãi có quyền biểu quyết trong cơ cấu cổ phần của công ty, đảm bảo sự bình đẳng giữa các cổ đông nhà nước trong dnNN cổ phần hóa và cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần niêm yết là cổ đông đã tham gia xây dựng điều lệ công ty, có đại diện trong Hội đồng quản trị và được quyền mua cổ phần theo mệnh giá. Đây là một lợi thế rất lớn so với các cổ đông khác của công ty, vì vậy việc trao cho họ quyền sở hữu cổ phiếu ưu đãi có quyền biểu quyết là không cần thiết và không công bằng.* Bổ sung các quy định, hướng dẫn cụ thể cho các công ty niêm yết trong việc xây dựng cơ chế sử dụng và bảo vệ thông tin nội bộ quan trọng của công ty cho các thành viên hội đồng quản trị, quản lý và nhân viên. quản lý khác; phân loại và xác định thông tin nào là quan trọng bên trong thông tin.* Nghiên cứu và xây dựng bộ quy tắc ứng xử về đối xử với các bên liên quan để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các đối tượng này– Có cơ chế khuyến khích và nâng cao hiệu quả tham gia của người lao động vào quá trình CG, trong đó có quy định về việc cử đại diện người lao động tham gia hội đồng quản trị.– Bổ sung quy định các công ty niêm yết phải có chính sách minh bạch, rõ ràng và dễ tiếp cận về vai trò và lợi ích của khách hàng, nhà cung cấp/đối tác kinh doanh.* Có những quy định bắt buộc về trách nhiệm của công ty đối với các vấn đề môi trường; Ví dụ, công ty được yêu cầu công bố các chính sách và tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường mà công ty cam kết tuân thủ là một trong những điều kiện để niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra, phải có chế tài nghiêm khắc đối với các công ty vi phạm.* Khuyến khích công ty có chính sách và định hướng rõ ràng về các hoạt động phúc lợi, phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và có trách nhiệm với xã hội. Sửa đổi, bổ sung chính sách thuế, chính sách thi đua, khen thưởng theo hướng khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã công bố và minh bạch thông tinMặc dù các quy định công bố thông tin đáp ứng tốt nhất các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp quốc tế, một số điểm trong các quy định này cần được xem xét để cải thiện* Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự bổ sung các luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực hoạt động chứng khoán là cần thiết; Nhưng với đặc thù hoạt động của thị trường chứng khoán, không dễ để phát hiện và chứng minh các hành vi được coi là tội phạm, bởi vì các giao dịch dựa trên thông tin đa dạng, vì vậy rất khó để xác định ai là người thua cuộc. Thiệt hại, số tiền thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Để đảm bảo các quy định của pháp luật có tính khả thi cao, tạo thuận lợi cho việc áp dụng hiệu quả luật, cần ban hành các văn bản hướng dẫn. quy định chi tiết về tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, bảo đảm hoạt động phòng, chống tội phạm hiệu quả trong lĩnh vực chứng khoán.* Cần bổ sung yêu cầu Báo cáo thường niên phải trình bày rõ hơn về rủi ro kinh doanh và những biến động lớn để hỗ trợ nhà đầu tư định giá đúng cổ phiếu của công ty, chứ không chỉ dừng lại ở việc phân tích các tỷ lệ tài chính hiện tại.* Nên bổ sung quy định công khai sơ yếu lý lịch tóm tắt của các thành viên Hội đồng quản trị trong Báo cáo thường niên. Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm chuyên môn, nguy cơ xung đột lợi ích, mức độ độc lập, khách quan và thời gian vật chất có thể có của các thành viên Hội đồng quản trị là những gì cổ đông/nhà đầu tư quan tâm và cần. được cập nhật để tăng cường khả năng giám sát của họ.* Có thêm quy định yêu cầu công bố thông tin về sự hiện diện của thành viên Hội đồng quản trị trong các cuộc họp của Hội đồng quản trị để cổ đông có thể theo dõi và đánh giá sự siêng năng và trách nhiệm của người đại diện trong việc thực hiện quản trị công ty. * Cần cụ thể và chuẩn xác hoá khái niệm “người có liên quan” trong các văn bản chính thức. Quy định cụ thể cơ chế, cách thức thu thập, tập hợp, xác định danh tính, lưu giữ và quản lý hồ sơ về những người có liên quan. Có như vậy, yêu cầu công khai để kiểm soát giao dịch của công ty với người có liên quan mới được giám sát hiệu trách nhiệm của HĐQTĐể hoàn thiện các quy định về vai trò, trách nhiệm của Hội đồng quản trị, các cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên cứu một số nội dung sau* Xây dựng bộ quy tắc hoạt động quản trị công ty bao gồm hệ thống các tiêu chí đánh giá và phân loại; một bộ quy tắc đạo đức kinh doanh áp dụng cho các thành viên Hội đồng quản trị và tất cả ban lãnh đạo và nhân viên của công ty. Đồng thời, quy định bổ sung các hình thức xử lý vi phạm tương ứng cụ thể cho tập thể và từng cá nhân.* Nghiên cứu bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động của Kiểm soát nội bộ giúp ngăn ngừa và phát hiện sớm các khiếm khuyết trong quản trị công ty để có giải pháp khắc phục kịp thời và không tốn kém.* Bổ sung quy định về tiêu chí thành viên HĐQT độc lập vì hiện nay, vai trò, trách nhiệm của thành viên HĐQT độc lập chưa được xác định rõ ràng và chưa có quy định công bố trong Báo cáo thường niên. Ngoài ra, cần có quy định rõ ràng về việc thành lập các ban chức năng của Hội đồng quản trị, trong đó các thành viên là thành viên độc lập của Hội đồng quản trị để đảm bảo cân bằng quyền lực và tính độc lập của Hội đồng quản trị.* Khuyến khích các công ty tiến tới tách biệt giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty để phát huy chức năng giám sát và điều hành của từng bộ phận.* Ngoài ra, cần bổ sung quy định về việc thành viên Hội đồng quản trị thực hiện tự đánh giá hàng năm, Hội đồng quản trị xây dựng chính sách quản trị rủi ro của công ty, chính sách quy hoạch cho người quản lý cấp cao, trình độ đào tạo về quản trị công ty và các kỹ năng cần thiết khác cho các thành viên hội đồng quản trị và quản lý. Tất cả các quy định trên là cần thiết để góp phần nâng cao năng lực và chất lượng quản trị doanh nghiệp của các thành viên thị trường. Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay cụ thể như thế nào? Hãy cùng Luật Quốc Bảo phân tích vấn đề này trong bài viết dưới đây khách có bất cứ câu hỏi nào liên quan đến pháp lý, quy định pháp luật hãy liên hệ Luật Quốc Bảo hotline/zalo 0763387788Mục lục1 Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nhận xét chung thấy rằng Xem thêm Thành lập công ty cổ phần Mọi ý kiến đều dựa trên một số cơ sở. Nhưng phải thừa nhận rằng trong nền kinh tế của chúng ta đang nổi lên những vấn đề cấp bách về tài chính và những điểm yếu về quản Tình hình vốn cũng như quản lý hiện tại của nó là Xem thêm Thành lập công ty Khác với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân có chế độ quản lý rất hiệu quả, đó là dựa trên mục đích của doanh nghiệp tư nhân, họ kiếm được bao nhiêu, họ được hưởng, lợi nhuận từ kinh doanh sản xuất. Xem thêm Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn3 Quản lý doanh nghiệp không chỉ là quản lý vốn mà còn là quản lý lao động và quản lý sản Xem thêm Thành lập công ty Qua đó chúng ta có một mức lương chính xác cho mỗi người. Quản lý lao động quản lý một thực thể sinh học sống do đó chúng ta phải có chính sách, biện pháp sao cho phù Dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp Luật Quốc Bảo Thực trạng quản trị công ty và doanh nghiệp nói chung ở nước ta trong nền kinh tế thị trường hiện tại còn khá nhiều bất cập. Bên cạnh những doanh nghiệp chuyển đổi cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, vẫn còn một số ít doanh nghiệp vẫn duy trì cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp chung, các doanh nghiệp của chúng ta đã hoàn toàn đổi mới trong quản lý cả quản lý tài chính, quản lý lao động và quản lý sản tiên chúng ta xem xét quản lý tài chính của các doanh nghiệp. Đây là một vấn đề quan trọng đối với sự phát triển của các doanh xét chung thấy rằngTình trạng quản lý hiện tại của các doanh nghiệp của chúng ta vừa lỏng lẻo vừa cứng nhắc. Trong các doanh nghiệp nhà nước, có một hiện tượng mà giới hạn trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước không rõ ràng, vì vậy tất cả các tổn thất và thất bại trong kinh doanh cuối cùng đều do nhà nước gánh doanh nghiệp có tài sản khá lớn, nhưng do quản lý lỏng lẻo, chúng được sử dụng trong các biến dạng, cắt xén và mất mát rất nhiều. Có sự tùy tiện trong quản lý và kế toán trong các doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế hợp đồng đã biến thành một cơ cấu hợp đồng trắng, khiến nhiều tổ chức và doanh nghiệp trở thành “doanh nghiệp tư nhân và nhà nước”.Nhiều tổ chức nhà nước giao vốn cho một nhóm các nhà quản lý để thực hiện công việc kinh doanh của riêng họ, mặc dù các đơn vị trực thuộc phải tự lo cho mình. Đếm trong hai cuốn sách vẫn còn khá phổ thêm Thành lập công ty cổ phần Chúng ta thấy, trên danh nghĩa nhà nước vẫn là chủ sở hữu lớn nhưng không phải là ông chủ thực sự; Không có sự phân biệt rõ ràng giữa quyền sở hữu và kinh doanh. Cơ chế quản lý chưa phù hợp với thị trường và chưa tạo điều kiện để thực hiện các chính sách quan trọng như đa dạng hóa loại hình sở hữu của doanh nghiệp nhà năng lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho đến nay, có một số ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp rất yếu, hiệu quả thấp, triển vọng phát triển gặp nhiều khó khăn. Có ý kiến khác cho rằng, mặc dù một số doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động yếu kém, nhưng vẫn có những doanh nghiệp rất mạnh làm tốt và phát triển tốt trong cơ chế thị trường. Mọi ý kiến đều dựa trên một số cơ sở. Nhưng phải thừa nhận rằng trong nền kinh tế của chúng ta đang nổi lên những vấn đề cấp bách về tài chính và những điểm yếu về quản trạng quản trị công ty ở Việt NamTình hình vốn cũng như quản lý hiện tại của nó làQuy mô vốn của các doanh nghiệp còn nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện nay. Trong số 5800 doanh nghiệp được thống kê, các doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý có tổng số vốn kinh doanh vào khoảng tỷ đồng. Các doanh nghiệp địa phương hiện nay đang sử dụng vốn khoảng tỷ đồng. Do công tác quản lý của ta nên số vốn ấy nó không được sử dụng hoàn toàn với mục đích sản xuất kinh doanh mà nó còn bị thất thoát đi một phần rất lớn. Số bị chiếm dụng một cách trái phép khá bước đổi mới đáng chú ý là việc cải tổ các doanh nghiệp theo Quyết định số 90 – TTg, Quyết định 91 – TTg ngày 7 – 3 – 1994 và Quyết định số 185 – TTg ngày 28 – 3 – 1996 của Thủ tướng Chính phủ và tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước thành lập các tập đoàn kinh doanh. Nhằm khắc phục tình trạng manh mún, quy mô nhỏ bé của doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ đã cho phép thành lập và thành lập lại các tổng công ty hoạt động trên một số lĩnh vực nhất thêm Thành lập công ty Hiện nay có 74 tổng công ty mạnh giữ vị trí chủ đạo trong các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Trong đó 18 tổng công ty được thành lập theo mô hình tập đoàn kinh doanh. Mặc dù có những chuyển biến ban đầu là rất khả quan nhưng nó vẫn còn bộc lộ một số dấu hiệu bất lợi và những hạn chế đối với các tổng công ty được thành lập lại. Sự phối hợp sự liên kết giữa các thành viên chưa tạo nên một sức mạnh to lớn, công tác quản lý rời rạc. Đội ngũ quản lý chưa đáp ứng đủ năng lực, chưa theo kịp sự thay đổi của môi trường kinh doanh và chưa đáp ứng được yêu cầu của tổng công ty lớn. Khi quy mô của Tổng công ty tăng lên thì tính phức tạp của quản lý thường tăng lên gấp bội, đặc biệt là quản lý tài doanh nghiệp tư nhân của chúng ta đã phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân tăng trong khi doanh nghiệp nhà nước giảm. Khác với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân có chế độ quản lý rất hiệu quả, đó là dựa trên mục đích của doanh nghiệp tư nhân, họ kiếm được bao nhiêu, họ được hưởng, lợi nhuận từ kinh doanh sản xuất. Đầu ra ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động vì lợi ích của tất cả mọi người, họ phải chịu mọi thứ, không giống như các doanh nghiệp nhà nước, được tài trợ và chịu trách nhiệm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp tư nhân có cách quản lý riêng đã mang lại hiệu quả rất cao. Đứng trước nhu cầu vốn rất lớn của mình, trước những khó khăn về vốn vay và tài trợ, các doanh nghiệp phải lựa chọn phương pháp quản lý hiệp đồng vốn tự tài trợ để từ nguồn vốn đó có thể họ có hiệu quả, có lợi thêm Thành lập công ty trách nhiệm hữu hạnHiện nay, cả nước có doanh nghiệp tư nhân được cấp phép với số vốn khoảng tỷ đồng, tập trung tại các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Nam và Đà Nẵng. Hầu hết các doanh nghiệp này hoạt động trong ngành công nghiệp thương mại, dịch vụ và chế biến thực phẩm. Vốn của các doanh nghiệp tư nhân rất nhỏ, chủ yếu là vốn tự có. Bên cạnh đó, nguồn vốn bổ sung cho các doanh nghiệp này là vốn vay ngân lý tài chính, vốn chủ yếu là quản lý cho doanh nghiệp hiện nay, không hề dễ dàng, làm thế nào để nguồn vốn của doanh nghiệp hoạt động hiệu quả là rất khó, điều này đòi hỏi các nhà quản lý, chủ cơ sở phải có biện pháp xử lý phù trạng quản trị công ty ở Việt NamQuản lý doanh nghiệp không chỉ là quản lý vốn mà còn là quản lý lao động và quản lý sản quản lý sản xuất của doanh nghiệp. Những năm gần đây, xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng, thu nhập của người dân tăng lên. Nhu cầu khác với trước đây, vì vậy công việc của các nhà quản lý sản xuất là tìm hiểu thị hiếu của người tiêu dùng và sau đó sản xuất các sản phẩm phù hợp. Hiện nay, chúng ta gặp phải tình trạng quản lý sản xuất lỏng lẻo dẫn đến sản xuất tràn lan, hòa giải hàng thật lộn xộn, tràn ngập trên thị trường. Hiệu quả quản lý sản xuất trong doanh nghiệp nhà nước rất kém, kém hơn nhiều so với doanh nghiệp tư nhân. Ta thấy sản phẩm các doanh nghiệp nhà nước sản xuất ra là cạnh tranh yếu trên thị trường, hầu như là mẫu mã xấu, lạc hậu. Các doanh nghiệp tư nhân tỏ ra năng động nắm bắt lại thị trường nhanh vấn đề dễ nhận thấy hiện nay kỹ thuật của chúng ta kém thế giới từ 1 – 2 thế hệ, nên năng suất, chất lượng kém. Do đó đòi hỏi nhà quản lý phải tìm cách nào để hiện đại hoá dần công nghệ sản thêm Thành lập công ty Đối với quản lý lao động. Thực trạng hiện nay về lao động của chúng ta là rất yếu kém về trình độ. Số lượng lao động có tay nghề cao trong các cơ sở sản xuất là ít. Các doanh nghiệp quản lý lao động hiện nay khác xưa kia. Ta thấy trước kia chúng ta quản lý lao động chung chung, người lao động đi làm việc không có cảm giác trách nhiệm, tận tụy với công việc, nhưng hiện nay do chuyển đổi cơ chế người lao động có hưng phấn làm viên hơn, có trách nhiệm nghề nghiệp cao hơn. Chúng ta đang quản lý lực lượng lao động theo hiệu lực, theo thời gian làm việc và theo sản phẩm họ làm ra. Qua đó chúng ta có một mức lương chính xác cho mỗi người. Quản lý lao động quản lý một thực thể sinh học sống do đó chúng ta phải có chính sách, biện pháp sao cho phù trạng quản lý doanh nghiệp hiện nay của chúng ta nói chung là rất yếu kém, do đó nó ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp hoạt động không kém hiệu quả. Vì vậy chúng ta phải có các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đa của đang phát vụ pháp lý chuyên nghiệp Luật Quốc Bảo Với đội ngũ chuyên gia, dày dặn kinh nghiệm, Luật Quốc Bảo chúng tôi cam kết đảm bảo uy tín trong quá trình thực hiện các công việc sau đây– Cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp/mở công ty từ A – Z– Tận tâm, chuyên nghiệp và hữu ích dành cho Quý khách hàng– Tư vấn pháp lý miễn phí một số vấn đề đến Quý khách hàng và tiến hành thực hiện thủ tục pháp lý trên thực đây là thông tin về Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay. Nếu còn thắc mắc hay cần tư vấn pháp lý khác. Hãy liên hệ Luật Quốc Bảo hotline/zalo 0763387788, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn chi tiết và nhanh chóng nhất. Việt Nam, ngày 26/08/2022 – Bốn doanh nghiệp được công nhận là “Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất tại Việt Nam” đã được vinh danh tại lễ trao danh hiệu diễn ra hôm nay tại khách sạn Sofitel Legend Metropole Hà Nội. Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất tại Việt Nam là chương trình ghi nhận các doanh nghiệp tư nhân hàng đầu Việt Nam, thông qua việc đánh giá thành công và thành tựu trên phương diện vận hành tổ chức, cũng như đóng góp cho ngành nghề và nền kinh tế. Danh sách doanh nghiệp đạt danh hiệu Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất tại Việt Nam 2022 Công ty Lĩnh vực hoạt động Tổ chức Giáo dục và Đào tạo Apollo Việt Nam Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất năm 2021 Giáo dục Tập đoàn PAN Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất năm 2021 Nông nghiệp và Thực phẩm Công ty TNHH Chế biến Thực phẩm và Bánh kẹo Phạm Nguyên Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất năm 2021 Chế biến thực phẩm và bánh kẹo Hệ thống Y tế Vinmec Chăm sóc sức khỏe Các doanh nghiệp đạt danh hiệu năm nay đều là những doanh nghiệp đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của chương trình, bao gồm doanh nghiệp tham gia lần đầu tiên và các doanh nghiệp đạt danh hiệu năm 2021 tiếp tục giữ được danh hiệu Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất. Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất là một chương trình quốc tế được cộng đồng doanh nghiệp tư nhân đánh giá cao khi áp dụng quy trình đã được kiểm chứng để “khám sức khỏe” chất lượng quản lý của doanh nghiệp trên các khía cạnh chiến lược kinh doanh, năng lực cạnh tranh và sự đổi mới, văn hóa doanh nghiệp, quản trị công ty và tài chính. Được triển khai tại Việt Nam từ năm 2021, quá trình đánh giá các doanh nghiệp đạt danh hiệu tại Việt Nam được thực hiện dựa trên kinh nghiệm triển khai chương trình toàn cầu trong gần 30 năm, tại 48 quốc gia trên thế giới. Bà Hà Thu Thanh, Chủ tịch HĐTV, Deloitte Việt Nam, cho biết “Danh hiệu Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất là kết quả của sự đầu tư đúng đắn vào nhân tài và công nghệ, năng lực sáng tạo và đổi mới trong môi trường cạnh tranh, và khát vọng cạnh tranh trên sân chơi quốc tế. Xin chúc mừng các doanh nghiệp được quản trị tốt nhất – những doanh nghiệp đã chứng minh được năng lực và cam kết trong việc xây dựng và triển khai một chiến lược rõ ràng và vững mạnh, nhằm đạt được những thành công lớn hơn trên phương diện vận hành.” Ông Bùi Tuấn Minh, Phó Tổng Giám đốc phụ trách khối Doanh nghiệp tư nhân Deloitte Private chia sẻ “Chúng tôi rất vinh dự khi được đồng hành với các doanh nghiệp được quản trị tốt nhất. Các doanh nghiệp đạt danh hiệu năm nay trở thành một phần trong mạng lưới các doanh nghiệp tinh hoa trên toàn cầu được công nhận về sự kiên cường, tầm nhìn xa và tinh thần doanh nhân. Với việc gia nhập cộng đồng này, các doanh nghiệp được quản trị tốt nhất có cơ hội mở rộng sang các thị trường mới và đi tiên phong trong lĩnh vực ngành nghề của họ.” Các doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia chương trình trải qua một quy trình đánh giá độc lập và nghiêm ngặt các kỹ năng và thực tiễn quản lý. Quy trình bao gồm việc phân tích và đánh giá chiến lược kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp theo khung đánh giá được áp dụng cho cộng đồng Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất trên thế giới. Từ đó, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sẽ sử dụng quy trình này để cải thiện chiến lược, có thêm được những ý kiến đóng góp quý báu để giúp doanh nghiệp tinh chỉnh chiến lược và hoạt động, tối ưu hóa tăng trưởng kinh doanh. Các doanh nghiệp đạt danh hiệu Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất được khuyến khích tham gia chương trình hàng năm để liên tục thử thách, cải thiện và phát triển để duy trì trạng thái của một doanh nghiệp được quản trị tốt nhất. Các doanh nghiệp đạt danh hiệu có cơ hội học hỏi, giao lưu với các doanh nghiệp khác đã sở hữu chứng nhận cho thành công – đó chính là danh hiệu Doanh nghiệp được Quản trị Tốt nhất, từ đó nâng tầm uy tín cho thương hiệu, đồng thời tăng cường sự hiện diện trên thị trường. Các doanh nghiệp được quản trị tốt nhất sẽ được mời tham dự các sự kiện kết nối và hội nghị chuyên đề được tổ chức hàng năm trong khu vực. Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp. Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose. CORPORATE GOVERNANCE IN VIETNAMESE ENTERPRISES Nguyễn Trường Sơn Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa các mối quan hệ giữa hội đồng quản trị, ban giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát quá trình phát triển của doanh nghiệp. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của doanh nghiệp với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị doanh nghiệp, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam mặc dù có sự tăng trưởng mạnh về số lượng, tuy nhiên chất lượng doanh nghiệp còn thấp, năng lực cạnh tranh yếu. Một trong những nguyên nhân cơ bản là năng lực quản trị, đặc biệt là quản trị công ty còn hết sức hạn chế. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn bài viết đi sâu phân tích thực trạng quản trị công ty trong các doanh nghiệp trên nhiều khía cạnh khuôn khổ pháp lý, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của doanh nghiệp, tính minh bạch trong hoạt động, vấn đề bảo vệ quyền của cổ đông và người lao động… từ đó đưa ra những nhận định tổng quát và các đề xuất nhằm tăng cường năng lực quản trị công ty ở Việt Nam. ABSTRACT Good corporate governance plays an important role in creating a good balance among the executive board, the directorate, shareholders and stakeholders whereby the business development can be well-controlled and oriented. Good corporate governance not only promotes activities, enhances the enterprises’ abilites to approach outside sources of capital but also improves the business value, minimizes the enterprise risks, intensifies the investment and sustainable development for the business and the economy. Over the past time, although Vietnamese businesses has rapidly increased in quantity, their quality still remains low with weak competitiveness. One of the reasons is the limited management capability. On the basis of a practical survey, the article aims to analyse business management on various aspects legal framework, organizational structure and management mechanism, transparency, the proctection of the rights of shareholders and employees…, which serves as a foundation for forming general evaluations and putting up new proposals to strengthen managerial capability in Vietnamese enterprises. Đặt vấn đề Sau hơn 20 năm đổi mới thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, hệ thống doanh nghiệp ở Việt Nam đã hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước ở tất cả các ngành kinh tế. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về số lượng, sự xuất hiện của các công ty lớn, quản trị công ty QTCT đang ngày càng thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà xây dựng pháp luật về doanh nghiệp. Sau gần 20 năm đổi mới, cùng với quá trình hoàn thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, khung quản trị về công ty cũng đã từng bước xây dựng, bổ sung và hoàn thiện. Cho đến nay, khung QTCT ở Việt Nam được đánh giá là phù hợp với các yêu cầu và nguyên tắc quản trị phổ biến được thừa nhận trên thế giới. Tuy nhiên, hoạt động QTCT ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế và yếu kém. Khái niệm “QTCT” vẫn còn rất mới mẻ. Theo một điều tra trên các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam do IFC-MPDF [1] thực hiện, chỉ có 23% số người được hỏi cho rằng các doanh nhân ở Việt Nam đã hiểu khái niệm và nguyên tắc cơ bản của QTCT. Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn lẫn lộn giữa QTCT với quản lý tác nghiệp. Theo kết quả khảo sát thực tiễn về QTCT ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên năm 2009 [2] có tới số doanh nghiệp được điều tra chưa thực hiện đầy đủ công tác QTCT. Thực hành quản lý theo kiểu thuận tiện, thiếu vắng các yếu tố của QTCT làm cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gặp nhiều hạn chế, doanh nghiệp lúng túng và chậm phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh khủng khoảng tài chính. Sự yếu kém về quản trị cũng làm cho doanh nghiệp Việt Nam “chậm lớn”, đông về số lượng, tuy nhiên yếu kém về chất lượng. 1. Nội dung của quản trị công ty Quan niệm về quản trị công ty Corporate governance Quan niệm và nội dung của QTCT ở các quốc gia khác nhau là rất khác nhau. Điều này do sự khác nhau về nguồn gốc thể chế luật pháp, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính tại mỗi nước… từ đó ảnh hưởng đến quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ, và thực thi quyền tư hữu. Tuy nhiên có thể đưa ra một định nghĩa chung, dung hòa được sự khác nhau trong cách quan niệm về QTCT như sau QTCT là một hệ thống các cơ chế và quy định, thông qua đó, công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty. Giữa QTCT corporate governance và quản trị kinh doanh business management có sự khác nhau rất cơ bản Quản trị kinh doanh là điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do Ban giám đốc thực hiện. QTCT là một quá trình giám sát và kiểm soát được thực hiện để bảo đảm cho việc thực thi quản trị kinh doanh phù hợp với lợi ích của các cổ đông. QTCT nghĩa rộng còn hướng đến đảm bảo quyền lợi của những người liên quan, không chỉ là cổ đông mà còn bao gồm cả các nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước. QTCT được đặt trên cơ cở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Công ty là của chủ sở hữu nhà đầu tư, cổ đông…, nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi. Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. QTCT tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh trong mối quan hệ ủy quyền trong công ty, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát. Tóm lại, QTCT là mô hình cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của công ty, nhằm đảm bảo sự phát triển dài hạn và bền vững của công ty. Nội dung của quản trị công ty QTCT xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa các nhóm lợi ích, các thành viên khác nhau trong công ty, bao gồm các cổ đông, hội đồng quản trị, ban điều hành, ban kiểm soát và những người liên quan khác của công ty như người lao động, nhà cung cấp. Đồng thời, QTCT cũng lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro liên quan đến hoặc có nguồn gốc từ những giao dịch với các bên có liên quan, những xung đột lợi ích tiềm năng và từ việc không có tiêu chuẩn rõ ràng hoặc không tuân thủ các quy định về công bố thông tin và không minh bạch. Nói tóm lại, các chủ đề chính trong QTCT gồm có Công khai và minh bạch thông tin; Xử lý mâu thuẫn quyền lợi giữa người quản lý doanh nghiệp, hội đồng quản trị và cổ đông khác; Xử lý mâu thuẫn giữa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số; Vai trò của quản trị viên độc lập, các tổ chức kiểm toán độc lập; Chính sách đãi ngộ với các nhà quản lý; Thủ tục phá sản doanh nghiệp; Quyền tư hữu; Việc thực thi các điều khoản luật và hợp đồng. Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh, tạo nên sự hài hòa của một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan, từ đó tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty. Quản trị công ty tốt sẽ thúc đẩy hoạt động và tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc tăng cường giá trị công ty, giảm thiểu rủi ro, tăng cường đầu tư và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế. 3. Đánh giá quản trị công ty tại Việt Nam Dữ liệu và phương pháp điều tra Để có thể đưa ra những nhận định về quản trị công ty tại các doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mẫu điều tra gồm 400 doanh nghiệp có địa chỉ khắp cả nước [2, 3]. Do khó khăn về thời gian và điều kiện nghiên cứu, quy mô mẫu có phần bị hạn chế, tuy nhiên với mục tiêu là đưa ra những nhận định tổng quát ban đầu về vấn đề nghiên cứu, kích thước mẫu như trên là có thể chấp nhận được. Nội dung điều tra là tìm hiểu mức độ vận dụng các nguyên tắc và tình hình thực thi nội dung quản trị công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thông qua ý kiến trả lời của nhiều thành viên khác nhau của các doanh nghiệp chủ sở hữu, thành viên HĐQT, lãnh đạo, cổ đông, nhân viên…. Bảng câu hỏi sử dụng thang điểm Liker với 05 mức điểm đánh giá cho việc tuân thủ các nguyên tắc và thực hiện nội dung quản trị công ty 5 điểm - Tuân thủ; 4 điểm - Nhìn chung được tuân thủ; 3 điểm - Được tuân thủ một phần; 2 điểm - Căn bản không được tuân thủ; 1 điểm - Không được tuân thủ. Bảng 1. Đánh giá tình hình quản trị công ty tại các doanh nghiệp NGUYÊN TẮC MỨC ĐIỂM 1. Đánh giá về khuôn khổ pháp lý quản trị công ty Khuôn khổ pháp lý chung về QTCT 2 Khuôn khổ pháp lý về cưỡng chế thực thi/minh bạch 2 Phân chia trách nhiệm quản lý rõ ràng 3 2. Quyền của cổ đông Các quyền cơ bản của cổ đông 3 Quyền tham gia vào các quyết định lớn 3 Quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông thường niên 3 Cổ đông được phép tham khảo ý kiến lẫn nhau 3 Tạo điều kiện thực hiện quyền sở hữu 2 xử công bằng với các cổ đông 2 Tất cả các cổ đông được đối xử công bằng 2 Hội đồng quản trị/Ban giám đốc công bố thông tin về lợi ích 2 4. Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan Tôn trọng quyền hợp pháp của các bên có quyền lợi liên quan 3 Các bên có quyền lợi liên quan được khiếu nại 3 Công bố thông tin của các bên có quyền lợi liên quan 2 Bảo vệ người tố cáo 2 5. Tính minh bạch Chuẩn mực công bố thông tin 3 Công bố thông tin kịp thời 3 Trách nhiệm của kiểm toán độc lập 2 Tìm hiểu về xung đột lợi ích 2 6. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị Hoạt động có trách nhiệm và cẩn trọng 3 Đối xử công bằng với mọi cổ đông 2 Áp dụng các chuẩn mực đạo đức cao 2 7. Đánh giá chung về tình hình quản trị công ty Tổng hợp và tính toán từ các nguồn dữ liệu [2], [3]. Đánh giá chung về tình hình QTCT trong các doanh nghiệp Việt Nam chỉ nhận được mức điểm khá thấp chỉ đạt mức dưới trung bình. Trong đó việc tuân thủ nguyên tắc đảm bảo quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu chính nhận được sự đánh giá cao nhất nguyên tắc đối xử công bằng với các cổ đông được đánh giá tuân thủ kém nhất 2/5. Bàn luận và nhận định về hạn chế của QTCT từ kết quả điều tra Với kết quả điều tra được lượng hóa như ở bảng 1, kết hợp với việc phỏng vấn sâu các thành viên của doanh nghiệp và sử dụng các dữ liệu thứ cấp [3, 4], có thể rút ra những nhận định chung về các hạn chế của tình hình QTCT tại Việt Nam hiện nay như sau - Về khuôn khổ pháp lý quản trị công ty Kết quả đánh giá chung nhận được khá thấp Tuy nhiên trên cơ sở những văn bản pháp luật đã được ban hành như Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Chứng khoán 2006 có thể rút ra nhận định khuôn khổ pháp lý về QTCT ở Việt Nam đã khá đầy đủ và từng bước tiếp cận các chuẩn mực QTCT của thế giới. Tuy nhiên nhiều quy định trong Luật còn khá chung và cho đến nay vẫn chưa có các Nghị định hướng dẫn, do vậy các doanh nghiệp thiếu cơ sở để thực hiện. Kết quả đánh giá nhận được thấp, theo chúng tôi chủ yếu do các thành viên của doanh nghiệp ít tìm hiểu về pháp luật nói chung cũng như các vấn đề liên quan đến QTCT nói riêng. Nhiều nội dung Luật quy định khá rõ ràng, tuy nhiên doanh nghiệp ít sử dụng. - Về vấn đề tổ chức bộ máy và phân chia quyền hạn trong các doanh nghiệp Có thể nói đây là điểm hạn chế lớn nhất trong QTCT hiện nay ở Việt Nam. Việc tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp phổ biến hiện nay là đều theo cơ chế tập quyền. Quyền hạn tập trung ở một số ít người, họ vừa là cổ đông lớn, vừa là thành viên của Hội đồng quản trị HĐQT và đồng thời giữ các chức vụ chủ chốt trong ban điều hành Ban Giám đốc. Lãnh đạo doanh nghiệp hoạt động thực tế thiên về điều hành hơn là hoạch định chiến lược và giám sát thực thi chiến lược phát triển doanh nghiệp; chưa thực hiện được chức năng giám sát và cân bằng quyền lực giữa các bên trong doanh nghiệp, nhất là giữa chủ sở hữu và điều hành. Điểm mấu chốt nhất của QTCT là tạo ra được một HĐQT có đủ “tầm” để chỉ đạo và kiểm soát công ty. Theo thông lệ quốc tế, HĐQT là một cơ quan có quyền lực cao nhất của doanh nghiệp, nơi vạch ra những chiến lược và giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các thành viên HĐQT phải là những người mẫu mực và đa năng, có vai trò hình mẫu cho cổ đông và các bên có lợi ích liên quan. Tuy nhiên trên thực tế, kết quả điều tra cho thấy Đối với doanh nghiệp dưới hình thức công ty, 95% giám đốc doanh nghiệp là thành viên của HĐQT, trong đó trên 60% vừa giữ chức chủ tịch HĐQT vừa giữ chức giám đốc hoặc tổng giám đốc; đối với các doanh nghiệp tư nhân, tuyệt đại bộ phận giám đốc doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp và thực hành QTCT theo kiểu “gia đình”, một mình hoặc một số người thân đảm nhận tất cả các chức năng quản lý. Như vậy giữa chức năng lãnh đạo với nhiệm vụ chính là xây dựng chiến lược thường của chủ doanh nghiệp và HĐQT và chức năng quản lý việc vận hành hàng ngày của người quản lý Ban điều hành không rõ ràng. Với việc kiêm nhiệm “2 trong 1” này, các chủ doanh nghiệp trở nên rất bận rộn với việc điều hành, không đủ năng lực và thời gian dành cho việc xây dựng chiến lược phát triển. Kết quả tất yếu là phần lớn doanh nghiệp không có chiến lược, hoạt động chủ yếu mang tính ngắn hạn, nhằm vào lợi nhuận trước mắt, tư duy chủ yếu dựa trên các “chiêu, chước” mang tính ứng phó, thiếu tính dài hạn và bền vững. Về Ban kiểm soát trong các doanh nghiệp Hiện tại, trong các doanh nghiệp vai trò của Ban kiểm soát lại khá mờ nhạt. Hầu hết thành viên của Ban kiểm soát đều là nhân viên của công ty, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm. Theo quy định, ban kiểm soát phải kiểm tra và kiểm soát được hoạt động của HĐQT và Ban điều hành, tuy nhiên họ lại là nhân viên cấp dưới, do vậy tính độc lập trong kiểm tra là rất hạn chế. Trên thực tế hiện nay, hầu hết ban kiểm soát đều hoạt động rất hình thức, phụ thuộc vào HĐQT và ban điều hành. Với các đặc điểm nêu trên, Ban kiểm soát khó có thể hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ như luật định và trở nên hình thức, thường chỉ là người “đóng dấu” cho ban lãnh đạo khi cần thiết. Vì vậy, thực trạng về ban kiểm soát ở nước ta có lẽ chỉ tồn tại dưới hình thức “người giám sát bị kiểm duyệt”, chứ chưa phải là một thể chế giám sát nội bộ độc lập, chuyên môn và chuyên nghiệp để cân bằng hoạt động của doanh nghiệp, phục vụ lợi ích tối đa của doanh nghiệp. - Về công khai và minh bạch thông tin trong QTCT Kém công khai và không minh bạch đang là một trong số các vấn đề lớn của QTCT hiện nay ở Việt Nam. Chủ sở hữu, các cổ đông không nhận được một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ các thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Các thông tin cơ bản đó bao gồm từ tổng tài sản đến đánh giá chính xác về thực trạng tài chính hiện nay và thông tin về lưu chuyển tiền tệ trong quá khứ cũng như các thông tin về dự báo trong tương lai. Điều này làm cho các nhà đầu tư và cổ đông không thể đánh giá chính xác giá trị doanh nghiệp trong hiện tại cũng như tương lai. Các doanh nghiệp chưa có các chuẩn mực công bố thông tin, do vậy khá tùy tiện khi thực hiện. Công tác kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập chưa được chú trọng. Chất lượng báo cáo tài chính và mức độ công bố thông tin đối với các công ty niêm yết, đặc biệt là đối với các công ty cổ phần không niêm yết và doanh nghiệp nhà nước chưa cao. Những cơ quan chịu trách nhiệm thúc đẩy quản trị công ty tốt hoặc chưa có hoặc còn yếu kém. Cần phải có nhiều nỗ lực để xây dựng một văn hóa kinh doanh góp phần nâng cao việc thực thi có trách nhiệm, công bằng và minh bạch. - Vấn đề bảo đảm quyền lợi của cổ đông, nhất là những cổ đông nhỏ Về vấn đề này, kết quả điều tra cho thấy các doanh nghiệp đã bước đầu thực hiện, tuy nhiên chưa đạt yêu cầu. Trong quá trình hoạt động, nhiều cổ đông nhất là các cổ đông nhỏ không hoặc chưa được tham gia biểu quyết các vấn đề lớn như sửa đổi các văn bản quan trọng điều chỉnh hoạt động của công ty, phát hành thêm cổ phiếu hoặc tiến hành các giao dịch bất thường… - Tình hình thực hiện các lĩnh vực quản trị chức năng trong các doanh nghiệp Quản trị công ty, bên cạnh việc tạo ra một cơ chế quản lý nhằm bảo đảm sự cân bằng về quyền và lợi ích giữa các bên trong và ngoài doanh nghiệp còn đòi hỏi phải thực thi tốt các hoạt động quản trị chức năng như quản trị chiến lược, nhân sự, tài chính, marketing…Từ kết quả điều tra, đặc biệt là việc sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu đối với các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và giám đốc điều hành cho thấy Về quản trị chiến lược Đại bộ phận doanh nghiệp đều không xác định rõ ràng sứ mệnh tồn tại, không có mục tiêu dài hạn và không xác định được mô hình chiến lược phát triển trên 95%. Hoạt động của doanh nghiệp chủ yếu được xác lập thông qua các kế hoạch vận hành ngắn hạn, phần lớn là kế hoạch tháng, thậm chí ngắn hơn. Có thể nói, tư duy ngắn hạn, thiếu phương hướng hoạt động dài hạn đang là một đặc điểm lớn chi phối quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Tuổi thọ bình quân của doanh nghiệp rất ngắn, chỉ khoảng 3,4 năm. Rất nhiều doanh nghiệp được thành lập chỉ nhằm mục đích khai thác một cơ hội kinh doanh nào đó, khi cơ hội đó không còn nữa, doanh nghiệp cũng kết thúc hoạt động. Về quản trị tài chính và kế toán Đặc điểm chung là các doanh nghiệp của Việt Nam chưa thực sự vận hành hệ thống quản trị tài chính một cách khoa học và minh bạch, phần lớn chỉ mới chú trọng chức năng kế toán, đặc biệt là kế toán thuế nhằm ứng phó với cơ quan Thuế. Quản trị dòng tiền đang là một khái niệm khá mới mẻ, phần lớn chỉ mới chú trọng việc hạch toán đúng doanh thu và chi phí để xác định lợi nhuận trong từng năm hoạt động hoặc từng tác nghiệp riêng rẽ. Nhiều doanh nghiệp doanh thu tăng nhưng luồng tiền vào và ra doanh nghiệp vẫn bị ách tắc, lúng túng trong huy động và sử dụng nguồn vốn. Chưa thiết lập kế toán quản trị hoặc kế toán quản trị chưa cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin kế toán, tài chính phục vụ ra quyết định quản lý của lãnh đạo đơn vị. Về hoạt động kiểm soát của kế toán, nhiều khoản chi chứng từ không hợp pháp, hợp lệ; kế toán chỉ tập hợp chứng từ quyết toán, chưa thực hiện kiểm soát hoặc kiểm soát không đầy đủ; không kiểm soát được hoặc kiểm soát không chặt chẽ tiêu hao vật tư, nguyên liệu, chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ; kế toán không tham gia kiểm soát vật chất, kiểm soát trực tiếp các hoạt động quan trọng của đơn vị. Về quản trị nguồn nhân lực Nhân lực là một yếu tố căn bản quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tuy nhiên tình hình chung của các doanh nghiệp Việt Nam là chất lượng nguồn nhân lực thấp và rất thiếu ổn định. Bên cạnh các nguyên nhân về hệ thống đào tạo quốc gia, một trong những lý do chính của tình trạng này là cách quản trị công ty của doanh nghiệp. Cách quản trị ấy không đáp ứng những nhu cầu nhân bản của người lao động là công việc phù hợp khả năng, phân công hợp lý, phát huy được khả năng, thù lao tương xứng và cơ hội thăng tiến. Do đó doanh nghiệp không sản sinh ra những quản trị viên có khả năng, nhiều nhân viên chủ động thôi việc nhưng doanh nghiệp rất lúng túng trong việc bố trí nhân sự thay thế cho những vị trí nghỉ việc. Động cơ làm việc của nhân viên chủ yếu là thu nhập để đảm bảo cuộc sống, làm việc theo kiểu “tháo khoán”, hết giờ hoặc hết nhiệm vụ là nghỉ, ít sáng tạo và ít sáng kiến cải tiến công việc. Nhân viên không biết hoặc không hiểu thấu đáo định hướng, chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Mức độ gắn bó giữa nhân viên và doanh nghiệp rất thấp, họ khá thờ ơ với những thành công hay thất bại của doanh nghiệp, xem đó như là vấn đề của chủ doanh nghiệp. Đối với giới chủ, vấn đề quan tâm lại là chính là sự giàu có và thành đạt của chính bản thân mình hơn là vì doanh nghiệp trong đó họ cũng chỉ là một bộ phận. Về quản trị thương hiệu và marketing Điểm hạn chế lớn của các doanh nghiệp là chưa quan quan tâm đến công tác xây dựng thương hiệu. Một số doanh nghiệp mới chỉ hướng tới định vị sản phẩm của mình là “Hàng Việt Nam chất lượng cao” chưa nghĩ đến chuẩn quốc tế hoặc thấp hơn là khu vực, thừa nhận sản phẩm mình là sản phẩm nội địa, thể hiện sự tự ti nếu so với thị trường thế giới. Những sản phẩm chất lượng cao theo chuẩn quốc tế không bao giờ tự quảng cáo là hàng Mỹ chất lượng cao hay hàng Nhật chất lượng cao. Công tác marketing chủ yếu chỉ tiến hành các hoạt động quảng cáo, một chiến lược marketing mang tính hệ thống còn vắng bóng trong các doanh nghiệp. Những vướng mắc, hạn chế nêu trên thể hiện công tác QTCT có nhiều khiếm khuyết, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác điều hành và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề đáng chú ý là nhiều đơn vị không xác định được nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, do vậy mặc dù rất nổ lực khắc phục, nhưng chỉ dừng ở mức độ sửa chữa các biểu hiện bên ngoài, triệu chứng của vấn đề, chưa chữa trị được tận gốc những hạn chế, nên không mang lại hiệu quả như mong muốn, những vướng mắc, bất cập tương tự vẫn tiếp tục phát sinh. 4. Kết luận và kiến nghị Kết luận Quản trị công ty theo chuẩn mực quốc tế là một yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, đa dạng hóa được nguồn lực phát triển đặc biệt là nguồn lực tài chính trong một “thế giới phẳng”. Trên bình diện quốc gia, việc tạo ra một khuôn khổ pháp lý và thực thi tốt quản trị công ty có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thu hút đầu tư, đa dạng hóa các quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế quốc tế. Sự gia tăng nhanh về số lượng, tuy nhiên năng lực cạnh tranh vẫn còn hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng là vấn đề QTCT còn hết sức yếu kém. Điều này được thể hiện dưới nhiều khía cạnh khác nhau cơ cấu tổ chức hết sức đơn giản nặng về quản lý theo kiểu gia đình, cơ chế quản lý chủ yếu theo kiểu thuận tiện; chưa phân biệt rạch ròi quyền và nghĩa vụ của các bộ phận cấu thành như Hội đồng quản trị, Ban điều hành, Ban kiểm soát và nhân viên… Chức năng hoạch định và điều hành chưa được phân biệt, doanh nghiệp hoạt động mang tính ngắn hạn, điều hành chủ yếu theo tư duy tác nghiệp; Tính minh bạch còn hạn chế và chưa có cơ chế để đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động; Quyền lợi của cổ đông nhỏ và người lao động trong doanh nghiệp chưa được quan tâm đầy đủ; Các hoạt động quản trị chức năng còn nhiều hạn chế và đơn giản. Những hạn chế này đã đặt ra những rào cản cho sự lớn mạnh của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp phát triển thiếu định hướng dài hạn và thiếu bền vững. Kiến nghị Để tăng cường quản trị công ty trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, cần phải giải quyết nhiều vấn đề trên cả bình diện quản lý vĩ mô của Nhà nước và trong phạm vi của từng doanh nghiệp. Về phía các cơ quan quản lý nhà nước Chúng ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý về QTCT theo thông lệ quốc tế, vấn đề quan trọng hiện nay là phải làm cho các chủ thể kinh tế trong nước thấu hiểu, đồng thuận và tuân thủ. Để làm được điều này điều quan trọng đầu tiên cần phải làm là phải tuyên truyền và giáo dục để xây dựng và nâng cao nhận thức về QTCT và ý nghĩa của QTCT đối với quá trình phát triển của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Cần có sự thống nhất về khái niệm và nội dung của khoa học quản trị, xây dựng hệ thống các khái niệm, thuật ngữ cơ bản thông dụng nhất trong QTCT phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Bản chất và nội dung cơ bản của quản trị sẽ được thể hiện thông qua chính những khái niệm, thuật ngữ về khung QTCT. Qua đó bản chất của quản trị sẽ được thể hiện một cách thống nhất, có thể hiểu được và đến với chủ sở hữu, những cán bộ, công chức nhà nước và người quản lý doanh nghiệp. Do vậy, việc nghiên cứu, biên soạn các cẩm nang hay sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo khác về quản trị rõ ràng phải là một nhiệm vụ ưu tiên. Tích cực và chủ động tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo về QTCT. Cần nghiên cứu và đưa các nội dung của QTCT vào giảng dạy tại các Trường đại học và các tổ chức đào tạo thay cho việc chỉ dạy về quản trị kinh doanh trong các trường hiện nay. Về phía các doanh nghiệp Để áp dụng khoa học quản trị vào thực tiễn, doanh nghiệp phải coi QTCT như một yêu cầu tự thân, nội tại vì chính lợi ích của doanh nghiệp cũng như sự phát triển bền vững và lâu dài của doanh nghiệp, phải xem việc nâng cao năng lực QTCT như một trong những yếu tố quyết định cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Với những hạn chế như đã phân tích ở trên, tăng cường QTCT trong các doanh nghiệp trước hết cần hết sức chú trọng việc xây dựng hệ thống quản trị. Hệ thống đó phải bao gồm tổ chức bộ máy, chính sách, quy chế, quy trình nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát; quy định đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, có sự phân công, phân nhiệm, ủy quyền rõ ràng, xác định được trách nhiệm cá nhân gắn với chất lượng công việc và quyền lợi của người thực hiện; các quy trình nghiệp vụ phải đủ chi tiết, cụ thể để hướng dẫn thực hiện, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận có liên quan. Hệ thống các quy chế, quy trình quản trị của doanh nghiệp cần bao gồm 1 Công tác điều hành của Ban giám đốc Quy chế hoạt động của Ban giám đốc; Văn bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên Ban giám đốc; Quy định về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các bộ phận, phòng ban trong đơn vị; Nội quy hoạt động của doanh nghiệp; Quy chế hoạt động, quy trình nghiệp vụ của các phòng, ban; Quy định về hệ thống thông tin, báo cáo các lĩnh vực hoạt động phục vụ điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp, lãnh đạo các phòng, ban; Quy chế quản lý tài chính; Quy chế quản lý, sử dụng tài sản; Quy định về trình tự lập, xét duyệt, luân chuyển và lưu trữ chứng từ kế toán; Quy định về kế toán quản trị, Quy định về hệ thống định mức tiêu hao vật tư; Quy chế, quy trình về kiểm soát nội bộ… Bên cạnh việc xây dựng hệ thống, vấn đề tiếp theo là làm cho hệ thống đó thực sự vận hành được trong đời sống của doanh nghiệp. Bên cạnh việc kiên định với mục tiêu phát triển và áp dụng hệ thống, cần hết sức chú trọng việc giám sát, kiểm tra và đánh giá nhằm cải tiến liên tục hệ thống cho ngày càng phù hợp hơn với điều kiện thực tế của doanh nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Erik Berglof - Stijn Claessens. “Thực thi và quản trị công ty tốt ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi” - The World bank research observer, vol 21 no1 2006 [2] Nguyễn Trường Sơn – Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ trọng điểm “Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế ở Đà Nẵng” – Mã số B2006 – ĐN01 – 08TĐ. [3] Nguyễn Trường Sơn – Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Ngãi”. [4] TS. Huỳnh Năm – “Tăng cường Quản trị Công ty, giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững doanh nghiệp sau cổ phần hóa” – NXB Đà Nẵng – 2007. [5] quan-tri-cong-ty-na

quản trị doanh nghiệp việt nam hiện nay